Lịch sử

Đà Nẵng 1858: tấn công cửa biển qua tranh, bản đồ và châu bản

Chiều tối ngày 31 tháng 8 năm 1858, hạm đội Pháp – Tây Ban Nha đến trước cửa biển Đà Nẵng (Tourane). Sáng 1 tháng 9, Rigault de Genouilly gửi tối hậu thư rồi nổ súng. Quân triều Nguyễn giữ các đồn và pháo đài ở cửa sông Hàn, về sau đắp lũy ngoài mé biển. Liên quân rút hết ngày 22 tháng 3 năm 1860. Trang này kể lại bằng tranh khắc, bản đồ cũ và châu bản.

Tranh khắc đen trắng hai tàu buồm chiến của Pháp nhả khói đại bác trước một sườn núi ở vịnh Đà Nẵng.
Tàu chiến Pháp nổ súng ở vịnh Đà Nẵng. Tranh in của Pháp, 1858-1859, không rõ họa sĩ.
Mục lục
  1. Đà Nẵng trước năm 1858: vịnh kín, làng chài và hệ thống đồn
  2. Mùa hè 1858: hạm đội đến cửa biển
  3. Từ 31 tháng 8 đến 2 tháng 9 năm 1858, qua châu bản
  4. Đọc bản đồ Tourane năm 1859
  5. Nguyễn Tri Phương và những lũy đất
  6. Vườn không nhà trống, bệnh tật và cái đói
  7. Giằng co đến mùa xuân 1860
  8. Còn lại gì ở Đà Nẵng hôm nay
  9. Về các hình trên trang này
  10. Đọc thêm
  11. Câu hỏi thường gặp

Đà Nẵng trước năm 1858: vịnh kín, làng chài và hệ thống đồn

Tài liệu lưu trữ Pháp gọi Đà Nẵng là Tourane, biến âm từ tên Turão của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha. Vịnh Tourane có khu neo đậu hình ê-líp: rừng che tàu khỏi gió mùa, một đảo nhỏ dài ngăn nước lặng với biển, rất an toàn cho thủy thủ. Đây cũng là vị trí biển mà hải quân Pháp biết rõ nhất.

Quanh vịnh, các ngôi làng nằm rải rác trên đồng bằng gần sông rạch, người dân chủ yếu sống bằng nghề chài lưới. Báo Quân đội nhân dân mô tả Đà Nẵng là cửa biển có vị trí chiến lược quan trọng, gần kinh đô Huế, có núi bao bọc, tàu chiến vào được. Hải cảng sâu rộng này thuận tiện cho tàu chiến, và chỉ cách Huế khoảng 100 km.

Triều Nguyễn giữ cửa biển thế nào

Cổng thông tin Đà Nẵng, dựa trên châu bản triều Nguyễn do Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Hà Nội) giữ, liệt kê các điểm phòng thủ ở cửa biển: tấn Đà Nẵng, tấn Cu Đê, thành Điện Hải và thành An Hải, hai thành chế ngự lối vào cửa sông Hàn. Thêm vào đó có đài phong hỏa, pháo đài Định Hải, pháo đài Phòng Hải, 7 bảo Trấn Dương và tuyến phòng thủ Hải Vân.

Hải Vân quan được xây trên núi Hải Vân, vừa là nơi đóng mở con đường Huế – Hàn, vừa là điểm nhìn từ trên cao xuống Đà Nẵng. Châu bản cho thấy ải này giữ vai trò quan trọng trong việc cấp báo tình hình từ cửa biển Đà Nẵng.

Những lần tàu Pháp đến trước

Năm 1858 không phải lần đầu. Năm 1844, chiến thuyền Héroïne đến đây đòi triều đình thả 5 nhà truyền giáo. Năm 1847, hai chiến thuyền Pháp vào gây sự, đánh đắm 5 chiến thuyền bằng đồng trước khi rút. Ngày 25 tháng 9 năm 1856, Charles de Montigny, bực vì không được nghênh đón ở Đà Nẵng, cho tàu Catinat nổ súng nhưng thất bại.

Mùa hè 1858: hạm đội đến cửa biển

Tài liệu lưu trữ Pháp ghi lại thành phần hải đội: chiến thuyền ba cột buồm Némésis cắm cờ lệnh của phó đô đốc Rigault de Genouilly. Lực lượng gồm 1.500 lính Pháp, cùng 1.450 lính Tây Ban Nha và Tagal. Chỉ huy là Charles Rigault de Genouilly; quân Tây Ban Nha do đại tá Lanzarotte dẫn đầu. Wikipedia ghi khoảng 3.000 quân, nhưng tài liệu lưu trữ ghi chú rằng De Genouilly chưa bao giờ chỉ huy tới 3.000 quân; bài này theo con số của tài liệu lưu trữ.

Ngày 28 tháng 8, cả hải đội nhổ neo tiến về Đà Nẵng, và đến 6 giờ tối ngày 31 tháng 8 thì có mặt trước vịnh.

Tranh khắc trên là bản in của Pháp vẽ tàu chiến Pháp ở Đà Nẵng trong khoảng 1858–1859. Họa sĩ không rõ tên.

Ảnh chân dung phó đô đốc Rigault de Genouilly trong quân phục.
Phó đô đốc Charles Rigault de Genouilly, chỉ huy hạm đội. Ảnh của Pierre Louis Pierson, khoảng 1860-1870.

Chân dung phó đô đốc Rigault de Genouilly là ảnh chụp của Pierre Louis Pierson. Theo báo Quân đội nhân dân, người Pháp định tiến công chớp nhoáng chiếm Đà Nẵng, vượt đèo Hải Vân rồi đánh vào Huế.

Từ 31 tháng 8 đến 2 tháng 9 năm 1858, qua châu bản

Châu bản là bản tâu, phúc trình viết cho nhà vua, nên cho ta thấy chuyện xảy ra từ phía triều Nguyễn, gần như theo từng giờ. Một bản tâu ghi lại lời báo của người trấn giữ Hải Vân quan: giờ Dậu thấy 12 chiếc thuyền nhiều buồm và tàu chạy máy vào vịnh Trà Sơn nhưng chưa bắn súng. Vua Tự Đức phê lệnh cho Trần Hoằng điều thêm binh lính ra sức phòng giữ và tâu ngay tình hình.

Sáng ngày 1 tháng 9, De Genouilly gửi tối hậu thư buộc quan trấn thủ trong hai giờ phải giao nộp tỉnh thành. Ngay trong ngày, liên quân nổ súng vào bán đảo Sơn Trà. Châu bản ghi lại cảnh ấy: tàu bắn pháo liên tiếp vào các đồn 1, 2, 3, 4 và pháo đài An Hải, các đồn và pháo đài cũng bắn trả, khói bụi mịt mờ.

Tranh khắc đen trắng cột khói lớn bốc lên từ bờ biển sau tiếng nổ, các tàu chiến bắn đại bác ở phía trước.
Pháo kích Tourane năm 1858, làm nổ đồn Đông và đồn Tây. Tranh của Louis Le Breton.

Hình khắc của Louis Le Breton vẽ cuộc pháo kích Tourane năm 1858, làm nổ đồn Đông và đồn Tây.

Ngày 2 tháng 9, tàu tiến sát Điện Hải và bắn liên tiếp vào pháo đài; bên trong cũng bắn trả. Liên quân chiếm đồn Tây rồi đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà. Báo Quân đội nhân dân ghi Điện Hải bị đánh chiếm lúc 10 giờ ngày 2 tháng 9 năm 1858. Đến hết ngày 2 tháng 9, toàn bộ các hải đồn bảo vệ vịnh đã rơi vào tay liên quân.

Phía triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chép rằng Tổng đốc Nam – Ngãi Trần Hoằng gọi 2.070 biền binh mãn ban của tỉnh để phòng sai phái. Triều đình phái Hữu quân Đô thống Lê Đình Lý chỉ huy 2.000 cấm binh từ Huế phối hợp với hơn 2.000 biền binh do Trần Hoằng chống giữ. Quân Việt vừa đánh vừa lui, lập phòng tuyến Liêu Trì trước huyện Hòa Vang. Tướng Lê Đình Lý bị trọng thương rồi mất trong trận chiến sau đó.

Đọc bản đồ Tourane năm 1859

Hai bản vẽ dưới đây gắn với năm 1859. Bản đồ thứ nhất là bản đồ Tourane tìm thấy trong nhà một võ quan Đại Nam năm 1859. Bản đồ có chú thích bằng chữ Hán Việt, bên trái là bảng chú giải bằng tiếng Pháp.

Bản đồ vẽ tay màu nước vùng vịnh Đà Nẵng, có đồn lũy, sông ngòi, núi và tàu thuyền, bên trái là bảng chú giải bằng tiếng Pháp.
Bản đồ Tourane khoảng năm 1859, tìm thấy trong nhà một võ quan Đại Nam. Bên trái là bảng chú giải tiếng Pháp.

Hình thứ hai là chi tiết một bản vẽ cùng thời. Nhãn lưu trữ ghi: lấy từ một võ quan Đại Nam ngày 15 tháng 9 năm 1859. Mặt vịnh đầy tàu buồm, trên bờ là đồn lũy và làng mạc.

Chi tiết bản đồ màu: vịnh nước xanh với nhiều tàu buồm, quanh đó là núi, đồn lũy và làng.
Chi tiết một bản vẽ Việt Nam năm 1859: các tàu liên quân trong vịnh và hệ thống đồn lũy trên bờ.

Khi đọc sử liệu về trận này, bạn sẽ gặp những tên đồn như Hải Châu, Phúc Ninh, Thanh Giản trên tuyến lũy dài do Nguyễn Tri Phương cho đắp, hay Liên Trì, Nại Hiên và Nghi Xuân ở phòng tuyến thứ hai. Bản đồ năm 1908 ở cuối bài cho thấy vị trí một số tên ấy.

Nguyễn Tri Phương và những lũy đất

Tháng 9 năm 1858, vua Tự Đức điều Nguyễn Tri Phương, khi ấy là Kinh lược sứ Nam Kỳ, ra làm Tổng thống quân thứ Quảng Nam. Ngày 10 tháng 10 năm 1859, ông báo về Huế rằng quân triều đình ở Quảng Nam có hơn 7.000 người, nhưng bỏ trốn, bị sa thải, bệnh hoặc dùng việc khác đã hết quá nửa, chỉ còn 3.200 người tại ngũ.

Với lực lượng ấy, ông không đánh chính diện để tránh hỏa lực đối phương, mà cho phục kích và thực hiện kế “vườn không nhà trống”. Ông cho đắp lũy dài từ Hải Châu vào tới Phúc Ninh, Thanh Giản để bao vây liên quân ngoài mé biển. Một châu bản kể về ổ phục kích: khi người nước ngoài lên bờ, toán phục binh đồng loạt nổi dậy đâm giết được nhiều tên.

Tranh minh họa kiểu khắc gỗ cảnh đánh giáp lá cà ở một đồn đang cháy: lính đội nón chóp đánh nhau với lính đội mũ cứng.
Minh họa trận đánh cửa ải Đà Nẵng trong sách của Ngô Tất Tố, Hà Nội, 1935.

Hình trên là tranh minh họa trận đánh cửa ải Đà Nẵng trong cuốn Những trận đổ máu hồi người Pháp sang ta đến ngày nay (cuốn 2) của Ngô Tất Tố, do Nhật Nam thư quán in ở Hà Nội năm 1935.

Vũ khí phía triều Nguyễn

Báo cáo tổng kết của De Genouilly gửi về Pháp nêu rõ triều Nguyễn đã có chuẩn bị về quân sự: pháo đặt trên xe bánh to hợp địa hình, súng kíp do Pháp hoặc Bỉ sản xuất, thuốc súng gốc Anh nhập qua Hồng Kông và Singapore.

Vườn không nhà trống, bệnh tật và cái đói

Điều làm liên quân bất ngờ trước hết là ngôi làng trống. Họ không tìm được thực phẩm tươi vì dân làng đã rời đi trước khi quân Pháp tấn công. Chỉ bắt được vài con trâu, lợn và gà còn sót lại. Các chỉ huy Pháp không lường trước điều này vì tin vào báo cáo của các nhà truyền giáo rằng quân Pháp sẽ được chào đón.

Dịch bệnh sau đó hoành hành nhiều tháng: bệnh lỵ, bệnh scorbut và sốt. Sau năm tháng giao tranh, liên quân chỉ chiếm được một ngọn núi không người và vài làng ven biển không người. Trong báo cáo, De Genouilly viết rằng họ đang xuống dốc đến kiệt quệ ở Đà Nẵng. Trong số 800 lính bộ binh, chỉ còn nhiều nhất 500 người cầm nổi vũ khí.

Liên quân tháo dỡ hàng loạt nhà trong thành cùng nhiều đình chùa để lấy vật liệu dựng doanh trại, nhà kho và bệnh viện. Họ dựng lô cốt gỗ; lô cốt số 3 được tàu chở từ Manila về. Tổng cộng có 4 lô cốt kiểu ấy dọc bờ biển Đà Nẵng.

Giằng co đến mùa xuân 1860

Ngày 2 tháng 2 năm 1859, De Genouilly kéo phần lớn quân vào Nam, mở mặt trận mới ở Gia Định, chỉ để lại khoảng 1.000 người và 6 tàu chiến cho đại tá Faucon. Ngày 6 tháng 2, Faucon đã dẫn quân đánh đồn Hải Châu. Nhiều nhà sử học Pháp xem quyết định rút quân vào Nam là một bế tắc chiến lược.

Ngày 20 tháng 4 năm 1859, De Genouilly quay lại đánh đồn Điện Hải. Ngày 8 tháng 5, ông chia quân làm ba mũi tiến công. Nguyễn Tri Phương buộc phải cho quân rời phòng tuyến thứ nhất (Du Xuyên, Thạc Gián, Hải Châu) để rút về phòng tuyến thứ hai (Liên Trì, Nại Hiên và Nghi Xuân).

Ngày 20 tháng 6 năm 1859, De Genouilly đưa ra ba yêu sách khi thương nghị: tự do truyền đạo, tự do buôn bán và mở nhượng địa. Đúng 4 giờ sáng ngày 15 tháng 9 năm 1859, ba cánh quân Pháp và Tây Ban Nha đồng loạt tấn công phòng tuyến.

Đường Hải Vân và đồn Chân Sảng

Chính phủ Pháp bổ nhiệm chuẩn đô đốc Page thay De Genouilly, và ngày 18 tháng 11 năm 1859 Page ra lệnh đánh khu vực bắc Đà Nẵng. Châu bản ghi lại ngày ấy tàu Pháp đột ngột kéo đến pháo đài Định Hải và đồn Chân Sảng. Từ khi quân Pháp chiếm Chân Sảng, đường quan lộ bị cách trở.

Chuyện Hải Vân lúc này thành chuyện sống còn. Vào thời Nguyễn, để qua Hải Vân có ít nhất 3 con đường. Những người đốn củi có đường đi riêng và chính họ chỉ cho quan quân triều Nguyễn con đường ấy. Triều đình ra lệnh dùng gỗ, đá, gai góc lấp các đường nhỏ, chỉ để con đường chính.

Ngày rút quân

Ngày 22 tháng 3 năm 1860, số liên quân còn lại rút đi hết, sau khi phá hủy tất cả pháo đài và công sự. Cuộc chiếm đóng kéo dài 19 tháng. Tài liệu lưu trữ do Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước giới thiệu nhận định rằng liên quân đã thất bại trong việc chiếm đóng Đà Nẵng. Hồi ký của Paul Doumer ghi: người An Nam chống trả quyết liệt, họ bảo vệ từng tấc đất và phải mất nhiều năm mới chiếm được.

Còn lại gì ở Đà Nẵng hôm nay

Trên bán đảo Sơn Trà, ngay gần cổng cảng Tiên Sa, vẫn còn nhà tưởng niệm nơi chôn các binh lính liên quân chết trong trận Đà Nẵng. Người Pháp xây nhà này năm 1898, và người địa phương gọi nơi đây là Nghĩa trang Y Pha Nho.

Bản đồ trắc địa màu đề Tourane: thị trấn trên cửa sông, các làng quanh vịnh và bờ biển bên phải.
Bản đồ Tourane do Sở Địa dư Đông Dương vẽ năm 1908: tên làng Nại Hiên, Hải Châu, Phúc Ninh, An Hải đều còn trên bản đồ.

Bản đồ Tourane năm 1908 cho thấy cửa sông Hàn, thị trấn và các làng quanh vịnh; các tên Nại Hiên, Hải Châu, Phúc Ninh, An Hải đều có trên bản đồ. Bản đồ do Sở Địa dư Đông Dương vẽ, nhãn Commons ghi năm 1908.

Về các hình trên trang này

Mọi hình đều thuộc phạm vi công cộng, lấy từ Wikimedia Commons. Chú thích mỗi hình ghi tác giả hoặc nguồn, năm vẽ và đường dẫn về trang gốc.

Đọc thêm

Nhân vật cùng quê Quảng Nam: Phan Khôi. Về vùng đất này, xem Mì Quảng.

Nguồn ảnh

Câu hỏi thường gặp

Cuộc tấn công Đà Nẵng năm 1858 bắt đầu khi nào?

Chiều tối ngày 31 tháng 8 năm 1858, liên quân có mặt trước cửa biển Đà Nẵng. Sáng ngày 1 tháng 9, phó đô đốc De Genouilly gửi tối hậu thư rồi nổ súng.

Vì sao Pháp chọn Đà Nẵng?

Đà Nẵng là hải cảng sâu và rộng, thuận tiện cho tàu chiến vào ra, chỉ cách kinh đô Huế khoảng 100 km. Vịnh có rừng che gió mùa và một đảo nhỏ dài chắn sóng, nên rất an toàn cho thủy thủ.

Liên quân có bao nhiêu quân?

Theo tài liệu lưu trữ Pháp do Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước giới thiệu: 1.500 lính Pháp, cùng 1.450 lính Tây Ban Nha và Tagal.

Liên quân rời Đà Nẵng khi nào?

Ngày 2 tháng 2 năm 1859, De Genouilly kéo phần lớn quân vào Nam để mở mặt trận ở Gia Định. Số quân còn lại rút hết ngày 22 tháng 3 năm 1860, sau khi phá hủy các pháo đài và công sự.

Tourane là gì?

Tourane là cách tài liệu lưu trữ Pháp gọi Đà Nẵng, biến âm từ tên Turão của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha.

Nghĩa trang Y Pha Nho ở đâu?

Trên bán đảo Sơn Trà, gần cổng cảng Tiên Sa, còn nhà tưởng niệm nơi chôn các binh lính liên quân chết trong trận Đà Nẵng. Người Pháp xây năm 1898; người dân địa phương gọi là Nghĩa trang Y Pha Nho.

Những hình trên trang này lấy từ đâu?

Từ Wikimedia Commons, đều thuộc phạm vi công cộng. Mỗi hình ghi tác giả, năm vẽ và đường dẫn về trang gốc.

Đọc tiếp

Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).

Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.