Con người

Phan Khôi (1887–1959): người Bảo An, cây bút mở đường Thơ mới

Phan Khôi (1887–1959), bút danh Chương Dân, sinh ở làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam, nay thuộc xã Gò Nổi, Đà Nẵng. Ông đỗ tú tài Hán học rồi tự học quốc ngữ và tiếng Pháp, viết cho khoảng 30 tờ báo và là người dịch chính bản Kinh Thánh quốc ngữ. Bài thơ Tình già, đăng báo Phụ nữ tân văn năm 1932, được xem là tiếng chuông mở đầu phong trào Thơ mới.

Chân dung Phan Khôi trong khung hình bầu dục: người đàn ông trẻ để ria mỏng, mặc áo vest sáng màu, thắt cà vạt, ảnh đen trắng.
Phan Khôi. Chân dung in trong một cuốn sách xuất bản khoảng 1942-1945.
Mục lục
  1. Phan Khôi là ai
  2. Làng Bảo An và gia đình nhà Nho
  3. Từ Hà Nội về nhà tù Quảng Nam
  4. Mười năm dịch Kinh Thánh
  5. Một cây bút, ba miền
  6. Tình già (1932) và phong trào Thơ mới
  7. Huế, báo Sông Hương và Chương Dân thi thoại
  8. Tác phẩm chính
  9. Quê nhà nhớ ông
  10. Đọc thêm
  11. Câu hỏi thường gặp

Phan Khôi là ai

Phan Khôi sinh ngày 6 tháng 10 năm 1887 và mất ngày 16 tháng 1 năm 1959. Nơi ông ra đời là làng Bảo An, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Gò Nổi, thành phố Đà Nẵng. Bút danh quen thuộc của ông là Chương Dân.

Người đời nhớ ông ở ba vai: nhà báo, người dịch và nhà thơ. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân tóm lại rằng qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn, một dịch giả Kinh Thánh, một nhà Việt ngữ học và một nhà phê bình văn học. Bài này đi từ ngôi làng Bảo An, qua các tòa soạn Hà Nội, Sài Gòn, Huế, đến bài thơ mà cả giới văn chương một thời tranh cãi.

Làng Bảo An và gia đình nhà Nho

Gia đình Phan Khôi thuộc dòng nhà Nho: cả họ nội lẫn họ ngoại của ông đều quê ở Điện Bàn, Quảng Nam. Cha ông là Phó bảng Phan Trân, mẹ là con gái Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu. Ông nội từng làm Án sát tỉnh Khánh Hòa dưới triều vua Tự Đức. Ông ngoại, Tổng đốc Hoàng Diệu, tuẫn tiết khi thành Hà Nội thất thủ năm 1882.

Lớn lên trong nếp nhà ấy, cậu học trò Phan Khôi theo con đường chữ Hán. Ông học giỏi Nho văn và đỗ tú tài năm 19 tuổi. Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng ghi mốc năm 1905, và cho biết ông không thích dấn thân vào đường khoa cử mà chuyển sang tự học quốc ngữ và tiếng Pháp. Báo Tuổi Trẻ viết đúng như vậy: ông học chữ Hán, 19 tuổi đậu tú tài Hán học, nhưng sau đó chuyển sang Tây học.

Nền Hán học vững là vốn quý suốt đời cầm bút. Khi dịch Kinh Thánh, ông dùng bản chữ Hán đối chiếu với bản chữ Pháp.

Từ Hà Nội về nhà tù Quảng Nam

Năm 1907, Phan Khôi ra Hà Nội, tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và làm việc cho tạp chí Đăng Cổ Tùng Báo. Về sau ông bị bắt và giam ở nhà tù Quảng Nam, đến năm 1914 thì được ân xá.

Mười năm dịch Kinh Thánh

Ít người biết rằng một trong những công việc dài hơi nhất của Phan Khôi không nằm trên mặt báo. Năm 1916, giáo sĩ E. F. Irwin nhận ra khả năng uyên bác của ông và mời ông tham gia ủy ban phiên dịch Kinh Thánh sang chữ quốc ngữ. Ông làm việc suốt 10 năm, từ 1916 đến 1925.

Ủy ban có đại diện cả ba miền Bắc, Trung, Nam và có cả thành phần tân học lẫn cựu học. Phan Khôi được giao việc phiên dịch chính vì ông giỏi chữ quốc ngữ nhất. Bản dịch hoàn thành năm 1925, in ở Trung Hoa rồi mang về Việt Nam; theo tài liệu của Thánh Kinh Hội thì bản này chính thức phát hành năm 1926.

Cổng thông tin Đà Nẵng nhấn mạnh điều ít ai ngờ: ông dùng bản chữ Hán đối chiếu với bản chữ Pháp để dịch cho Hội thánh Tin Lành. Wikipedia tiếng Việt cũng ghi ông là một trong những người dịch Kinh Thánh Tin Lành sang tiếng Việt.

Một cây bút, ba miền

Phan Khôi không ở lâu một chỗ. Ông cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn bấy giờ: Đông Cổ tùng báo, Nam Phong, Hữu Thanh, Thực nghiệp dân báo ở Hà Nội; Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn; Tràng An ở Huế.

Bìa tạp chí Nam Phong: hai chữ Nam Phong màu đen trên những dải mây đỏ, bên dưới là con rồng đỏ.
Bìa tạp chí Nam Phong, Hà Nội. Phan Khôi viết phần quốc văn cho tờ báo này khoảng hai năm.

Đường đi của ông, theo từng mốc:

  • Ông phụ trách phần quốc văn của Nam Phong ở Hà Nội khoảng hai năm, rồi rời Hà Nội vào Sài Gòn viết cho báo Lục Tỉnh Tân Văn.
  • Năm 1919, ông cộng tác với Lục Tỉnh Tân Văn của Nguyễn Văn Vĩnh.
  • Năm 1931, ông ra Hà Nội làm chủ bút tờ Phụ nữ thời đàm.
  • Năm 1936, ông vào Huế viết cho Tràng An và xin phép xuất bản báo Sông Hương.

Toàn bộ sự nghiệp cầm bút kéo dài hơn nửa thế kỷ, với khoảng 30 tờ báo. Cổng thông tin Đà Nẵng ước ông viết khoảng trên một nghìn bài báo, về văn học, sử học, văn hóa, ngôn ngữ học và nhiều đề tài khác. Thời Pháp thuộc ông được xem là nhà báo kỳ cựu, từng cộng tác với cả chục tờ báo và chủ trương tờ Sông Hương.

Hay tranh luận

Ông còn là người châm ngòi nhiều cuộc bút chiến trong thập niên 1930, như tranh luận về Quốc học và về Truyện Kiều. Trong lời giới thiệu cuốn Việt ngữ nghiên cứu (NXB Thế giới, 2020), giáo sư Hoàng Tuệ dẫn lại quan điểm của ông về Quốc học: của ta chỉ có văn học với những sáng tác văn chương nghệ thuật. Tính khí ưa tranh luận ấy được người đời gọi là “Quảng Nam hay cãi”.

Vũ Ngọc Phan, trong Nhà văn hiện đại, nhận xét rằng khi phê bình thơ Phan Khôi hay nói bạo, nhưng chính những chỗ bạo ấy lại có duyên nhất.

Tình già (1932) và phong trào Thơ mới

Tình già là bài thơ nổi tiếng nhất của Phan Khôi. Bài ra mắt trên báo Phụ nữ tân văn số 122, ngày 10-3-1932. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cho rằng bài này đã được in sớm hơn.

Ba bìa tuần báo Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn, tên báo chữ đỏ, hình phụ nữ cùng đọc báo và một chân dung đàn ông.
Bìa tuần báo Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, phát hành trước năm 1945. Tình già ra mắt trên tờ báo này.

Đi kèm bài thơ là một bài giới thiệu mang tên Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ. Trong đó ông kể nỗi bí của người làm thơ: thơ Nôm thì cụ Tiên Điền, bà Huyện Thanh Quan đè ngang ngực làm ông thở không ra.

Bài thơ mở đầu bằng câu “Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa”. Đó là chuyện tình của hai người đã qua tuổi trẻ. Không còn điển tích, không còn khuôn mẫu niêm luật chặt chẽ; thay vào đó là giọng tự nhiên, gần gũi như lời kể chuyện.

Tiếng vang và cuộc tranh luận

Bài thơ vừa ra đời đã gây tiếng vang mạnh mẽ và kéo theo hàng loạt cuộc tranh luận giữa hai phía “thơ cũ” và “thơ mới”. Phụ nữ Tân văn đứng cùng Phong hóa, Ngày nay ở phía bênh vực thơ mới. Đến năm 1941, cuộc tranh chấp thơ mới, thơ cũ khép lại. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh viết rằng Thơ mới đã giành được quyền sống.

Đánh giá về Tình già khá tỉnh táo: Vũ Ngọc Phan coi đây là bài thơ có ý nghĩa mở đầu hơn là đỉnh cao. Dù vậy, báo chí và giới nghiên cứu vẫn nhắc đến Phan Khôi như người nổi tiếng với bài thơ khơi mở phong trào Thơ mới. Tình già được xếp vào nhóm thơ mới năm 1932.

Huế, báo Sông Hương và Chương Dân thi thoại

Năm 1936 ông vào Huế, viết cho tờ Tràng An và xin được phép xuất bản báo Sông Hương. Tuần báo Sông Hương do ông làm chủ nhiệm, ra được 32 số, từ ngày 1-8-1936 đến ngày 27-3-1937. Từ các mục báo ấy, người ta gọi ông là “Ngự sử Văn đàn”.

Cũng trong năm ấy, ông cho in lại tập bình thơ của mình dưới tên Chương Dân thi thoại, sau khi đổi bút hiệu từ Nam Âm sang Chương Dân. Sách ghi năm 1936. Năm 1939, ông vào Sài Gòn và cho xuất bản tiểu thuyết Trở vỏ lửa ra.

Tác phẩm chính

  • Bàn về tế giao (1918).
  • Tình già (thơ mới, 1932).
  • Chương Dân thi thoại (1936).
  • Trở vỏ lửa ra, tiểu thuyết (1939).
  • Tìm tòi trong tiếng Việt (1950).
  • Việt ngữ nghiên cứu (1955).
  • Dịch Lỗ Tấn, từ năm 1955 đến 1957.
  • Tham gia dịch Kinh Thánh Tin Lành sang tiếng Việt.

Đọc ông ở đâu? Loạt sách Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo do nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân sưu tầm đã xuất bản những tập đầu. Bà Phan Thị Miều, con gái ông, viết cuốn Nhớ cha tôi Phan Khôi (NXB Đà Nẵng, 2001).

Quê nhà nhớ ông

Năm 2007, nhân 120 năm ngày sinh, Tạp chí Xưa và Nay cùng Hội khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức tọa đàm về ông. Tháng 10 năm 2014, tỉnh Quảng Nam tổ chức hội thảo về những đóng góp của ông trên lĩnh vực văn hóa.

Hai con đường mang tên ông:

  • Phố Phan Khôi ở Đà Nẵng, dài 615 mét, đặt tên năm 2013.
  • Đường Phan Khôi ở thành phố Tam Kỳ, dài 310 mét, đặt tên tháng 3 năm 2015.

Lại Nguyên Ân viết rằng Phan Khôi hiện diện trước xã hội chỉ với tư cách nhà báo. Cái tên của ông vẫn nằm trên những con đường quê nhà, nơi chữ nghĩa của ông bắt đầu từ một ngôi làng tên Bảo An.

Đọc thêm

Muốn biết thêm về vùng đất ông sinh ra, xem bài Đà Nẵng 1858 và món ăn xứ Quảng Mì Quảng.

Nguồn ảnh

Câu hỏi thường gặp

Phan Khôi sinh năm nào, ở đâu?

Ông sinh ngày 6 tháng 10 năm 1887 tại làng Bảo An, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc xã Gò Nổi, thành phố Đà Nẵng. Cả họ nội lẫn họ ngoại của ông đều quê ở Điện Bàn.

Phan Khôi nổi tiếng nhất vì điều gì?

Vì nghề báo và vì bài thơ Tình già, bài khơi mở phong trào Thơ mới. Ông còn được gọi là Ngự sử Văn đàn.

Tình già đăng ở đâu, năm nào?

Tình già ra mắt trên báo Phụ nữ tân văn số 122, ngày 10-3-1932. Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân cho rằng bài đã được in sớm hơn.

Phan Khôi dịch Kinh Thánh khi nào?

Năm 1916, giáo sĩ E. F. Irwin mời ông vào ủy ban dịch Kinh Thánh sang quốc ngữ. Ông làm việc suốt 10 năm, từ 1916 đến 1925.

Phan Khôi viết cho những tờ báo nào?

Đông Cổ tùng báo, Nam Phong, Hữu Thanh, Thực nghiệp dân báo ở Hà Nội; Thần Chung, Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn; Tràng An ở Huế. Cả đời cầm bút ông cộng tác với khoảng 30 tờ báo.

Chương Dân là gì?

Chương Dân là bút danh của Phan Khôi. Ông đổi từ bút hiệu Nam Âm sang Chương Dân.

Có con đường nào mang tên Phan Khôi không?

Có hai. Đà Nẵng đặt tên phố Phan Khôi dài 615 mét năm 2013. Tam Kỳ có đường Phan Khôi dài 310 mét, đặt tên từ tháng 3 năm 2015.

Phan Khôi mất năm nào?

Ông mất ngày 16 tháng 1 năm 1959, tại Hà Nội.

Đọc tiếp

Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).

Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.