Ngũ Hành Sơn: lịch sử núi Non Nước, hang động và làng đá
Ngũ Hành Sơn là cụm sáu ngọn núi đá vôi cách trung tâm Đà Nẵng khoảng 11 km về phía Đông Nam. Năm 1825 vua Minh Mạng đặt tên theo ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, còn dân gian vẫn gọi là hòn Non Nước. Người Chăm đã cư trú và buôn bán ở đây từ thế kỷ VII đến XI. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 1980 và quốc gia đặc biệt ngày 24/12/2018.

Mục lục
- Núi mọc lên từ biển cũ
- Ba cái tên: Non Nước, Ngũ Hành Sơn, núi cẩm thạch
- Người Chăm đến trước
- Thủy Sơn: ngọn núi của chùa và hang
- Động Âm Phủ: địa ngục dựng bằng đá
- Thời Pháp: đá lên tàu, khách lên núi
- Làng đá Non Nước dưới chân núi
- Hai lần xếp hạng
- Sông Cổ Cò, bến Ngự và lễ hội Quán Thế Âm
- Đi thăm Ngũ Hành Sơn
- Câu hỏi thường gặp
Núi mọc lên từ biển cũ
Nhìn từ xa, Ngũ Hành Sơn là sáu ngọn núi đá vôi nhô lên giữa vùng cát ven biển, trải trên diện tích gần 2 km². Các nhà địa chất cho rằng cụm núi này vốn là những hòn đảo nhỏ giữa biển Đông, rồi dần nối vào đất liền khi đồng bằng Quảng Nam được bồi lên. Bây giờ bờ biển đã lùi xa chân núi khoảng 800 mét.
Mỗi ngọn có một màu đá riêng. Đá Thủy Sơn màu hồng, đá Mộc Sơn màu trắng, đá Hỏa Sơn màu đỏ, đá Kim Sơn màu thủy mặc và đá Thổ Sơn màu nâu. Hang động ở đây là hang mở, có nhiều lỗ thông ra ngoài nên lúc nào cũng mát và thoáng. Vào động Huyền Không, bạn thấy rõ điều đó: đỉnh động có nhiều lỗ hổng tự nhiên đưa ánh sáng và gió mát xuống.
Ba cái tên: Non Nước, Ngũ Hành Sơn, núi cẩm thạch
Người địa phương gọi cụm núi là hòn Non Nước, người Pháp gọi là núi cẩm thạch. Từng ngọn cũng có tên dân dã. Thủy Sơn là núi Chùa, Mộc Sơn là núi Mồng Gà, Thổ Sơn là núi Đá Chồng, Kim Sơn là núi Đùng và Hỏa Sơn là núi Ông Chài.
Tên Ngũ Hành Sơn đến muộn hơn. Lê Quang Định đã nhắc đến nó trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí năm 1806. Vua Minh Mạng đến chơi lần đầu vào tháng 4 âm lịch năm 1825, dựa vào thế năm ngọn núi theo phương vị ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ mà đặt tên Ngũ Hành Sơn. Năm 1837, một sắc chỉ ban tên Thủy Sơn cho ngọn đông bắc, tức núi Tam Thai. Vì thế tên các ngọn núi mang dấu một ông vua Nguyễn, còn tên Non Nước thì của dân.
Cái tên cẩm thạch lại là tên Pháp. Albert Sallet đặt cho thắng cảnh tên Les montagnes de marbre, dựa vào chất liệu của núi đá. Nói cho đúng, đá ở đây là đá vôi, nhưng chữ “marble” vẫn còn trong tên tiếng Anh Marble Mountains.
Còn một lớp tên nữa là truyền thuyết. Chuyện kể rằng năm ngọn núi do năm mảnh vỡ của quả trứng rồng trong truyện thần Kim Quy hóa thành. Bản của người Chăm kể vỏ trứng tách thành năm mảnh, mỗi mảnh thành một ngọn: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Đây là chuyện kể dân gian, không phải sử liệu, nhưng nó cho thấy cả người Việt lẫn người Chăm đều coi cụm núi là nơi linh thiêng.
Người Chăm đến trước
Trước khi có chùa Việt, nơi này đã là đất của người Chăm. Hồ sơ di tích ghi Ngũ Hành Sơn là mảnh đất có lịch sử lâu đời, vốn là trung tâm cư trú, giao thương và tín ngưỡng của người Chăm, cư dân bản địa. Hai đợt khai quật ở di chỉ Nam Thổ Sơn năm 2000 và 2018 cho thấy khu vực này có người Chăm cư trú và giao thương trong thế kỷ VII đến XI. Trên bản đồ khảo cổ Chăm in năm 1908, Henri Parmentier đã ghi tên Tháp Ngũ Hành Sơn.
Dấu tích còn lại nằm ngay trong chùa và hang. Trước sân chùa Linh Ứng có đài thờ mang phong cách nghệ thuật Đồng Dương. Chính bệ thờ này, khắc thần Indra cưỡi voi giữa các vũ nữ Apsara, được ghi nhận là bệ thờ đẹp nhất tìm thấy ở Ngũ Hành Sơn cho đến nay. Trong động Tàng Chơn, người ta vẫn thờ Linga-Yoni bằng đá của người Chăm. Một pho tượng đá Vishnu cưỡi Garuda được các bảo tàng ghi nguồn gốc từ vùng núi cẩm thạch này.

Khi đất Chăm thuộc về Đại Việt, nữ thần Po Inư Nagar trở thành vị thần của người Việt với tên Thiên Y A Na hay bà Chúa Ngọc. Đó là cách hai dân tộc để lại cho nhau cùng một ngôi miếu, và là lý do ở Ngũ Hành Sơn bạn gặp tượng Chăm cạnh tượng Phật. Muốn xem thêm các thánh địa Chăm lớn hơn của xứ Quảng, đọc Thánh địa Mỹ Sơn.
Thủy Sơn: ngọn núi của chùa và hang
Thủy Sơn có ba đỉnh ở ba tầng, giống ba ngôi sao Tam Thai ở đuôi chòm Đại Hùng, nên gọi là núi Tam Thai. Đi cổng phía Tây, bạn leo 156 bậc đá để đến chùa Tam Thai.
Chùa Tam Thai có từ trước khi nhà sư Thích Đại Sán ghé thăm năm 1695 trong Hải ngoại ký sự. Một cơn bão lớn đã phá hủy hoàn toàn chùa năm 1901, đến năm 1907 chùa mới được dựng lại. Công chúa Ngọc Lan, em vua Minh Mạng, phát nguyện tu suốt đời ở chùa này.
Từ lưng chừng núi đi xuống là chùa Linh Ứng, tựa vách núi và nhìn ra biển, xây vào nửa đầu thế kỷ XVII. Năm 1825 vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch ngói. Đến đời Thành Thái, năm 1891, chùa đổi tên thành Linh Ứng tự, tên giữ đến nay.
Trong động Hoa Nghiêm có tấm bia Phổ Đà Sơn linh trung Phật khắc thẳng lên vách đá năm Canh Thìn 1640. Bia ghi danh sách 53 người cúng tiền, trong đó có ít nhất 10 gia đình người Nhật. Tượng Quan Âm trong động do nghệ nhân đá Nguyễn Chất tạc năm 1960. Một tấm bia khác, của chùa Thái Bình gần ngọn Thủy Sơn và Thổ Sơn, ghi ngày 11 tháng 7 năm Tân Sửu, tức năm 1721. Bia năm 1640 cho thấy từ thế kỷ XVII ngọn núi này đã có cả người Việt lẫn người Nhật lui tới. Thương cảng Hội An ở phía nam từng nhộn nhịp như thế nào, xem Lịch sử Hội An.

Tấm ảnh xưa trên đây chụp năm 1920. Bác sĩ Sallet gặp lần cuối nhà sư Nguyễn Viết Lự của chùa Linh Ứng vào năm 1920, một năm trước khi ông mất, và bức ảnh được chụp đúng dịp đó.
Huyền Không là động nổi tiếng nhất. Dân gian kể rằng khi vua Thành Thái năm thứ 10 tới cầu quốc thái dân an và vô tình sờ vào nhũ đá bên ngoài, nhũ ấy không chảy nước nữa. Từ Vọng Giang Đài, bạn nhìn ra sông Cẩm Lệ, sông Cổ Cò và toàn cảnh Ngũ Hành Sơn.
Động Âm Phủ: địa ngục dựng bằng đá
Động Âm Phủ có từ thời vua Minh Mạng, khi nhà vua vi hành đến ngọn núi này. Theo thuyết âm dương, trên Thủy Sơn có đường lên trời thì dưới đất phải có động xuống âm phủ. Những cảnh bạn thấy bên trong, như cầu Âm Dương hay sông Nại Hà, là do người thợ tưởng tượng rồi tạc nên bằng đá cẩm thạch dưới chân ngọn Thủy Sơn.
Câu chuyện chính trong động là truyện Mục Kiền Liên tìm mẹ. Từ câu chuyện báo hiếu ấy mà ngày rằm tháng 7 hằng năm được gọi là ngày báo hiếu, tức lễ Vu Lan.
Thời Pháp: đá lên tàu, khách lên núi
Tờ ghi chú của Hội Những người bạn Huế xưa (AAVH) kèm ảnh 1920 kể chuyện khai thác đá khá rõ. Dưới triều các vua đầu nhà Nguyễn, việc khai thác đá ở đây bị cấm. Những thập niên đầu thời thuộc địa, người ta cho phép khai thác và chở lượng lớn cẩm thạch đi Nam Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản. Đường phố Tourane thậm chí lát vỉa hè bằng cẩm thạch. Việc khai thác quá mức sau đó bị cấm dưới triều Thành Thái, chỉ cho dân làng gần đó làm đồ nhỏ từ những mảnh đá rơi.
Cùng tuyến ấy, một đường sắt khổ hẹp dài 35 km chạy từ đảo Đài quan sát đối diện Tourane đến Faifo vừa phục vụ mỏ đá vừa chở khách đến thăm núi. Chuyện Tourane thành nhượng địa, đọc Đà Nẵng 1858.

Bưu thiếp trên đề “Lối vào hang và núi cẩm thạch, Tourane”.
Làng đá Non Nước dưới chân núi
Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước hình thành từ đầu thế kỷ XVII, do những nghệ nhân người Thanh Hóa và Nghệ An vào xứ Quảng lập nên. Một tấm bia chùa Phổ Khánh năm 1678 ghi người khắc bia quê ở xã Quán Khái, cho thấy nghề khắc bia và đục chữ đã có ở đó ít nhất từ thế kỷ XVII. Lúc đầu thợ làm đồ thô cho đời sống: ngư cụ, cối xay, đồ dùng đi biển.
Ngày nay làng làm tượng Phật, tượng thánh, tượng người, tượng muông thú và vòng đá đeo tay. Hội Thợ đá Non Nước tổ chức Lễ kỵ Thạch nghệ Tổ sư hằng năm; năm 2013 lễ rơi vào ngày 16 tháng 3 âm lịch.

Chuyện lấy đá từ núi đã đổi. Sau khi được xếp hạng năm 1980, danh thắng bị xâm hại nghiêm trọng. Năm 1991, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng chủ trương cấm khai thác đá núi Non Nước.
Hai lần xếp hạng
Danh thắng Ngũ Hành Sơn được xếp hạng di tích quốc gia năm 1980. Ngày 24/12/2018, Thủ tướng ký quyết định nâng lên di tích quốc gia đặc biệt.
Sông Cổ Cò, bến Ngự và lễ hội Quán Thế Âm
Phía tây và nam cụm núi có sông Cổ Cò. Thế kỷ XVII đến XVIII, nhánh sông này là đường thủy huyết mạch giữa Đà Nẵng và Hội An, sau đó bị bồi lấp. Dưới chân Kim Sơn xưa có bến Ngự, nơi thuyền vua cập bến mỗi lần vi hành đến Ngũ Hành Sơn.
Lễ hội lớn nhất là lễ hội Quán Thế Âm, tổ chức ba ngày 17, 18 và 19 tháng 2 âm lịch. Cuối năm 1999, lễ hội được nhà nước công nhận là một trong 15 lễ hội dân gian cấp quốc gia.
Đi thăm Ngũ Hành Sơn
Cụm núi cách Đà Nẵng 11 km về phía Đông Nam, phía đông giáp biển Non Nước, phía nam giáp đô thị cổ Hội An. Vì nằm trên đường Đà Nẵng - Hội An, bạn ghé ngọn Thủy Sơn trước rồi đến Phố cổ Hội An trong cùng buổi. Ban quản lý di tích đặt tại số 81 Huyền Trân Công Chúa, Đà Nẵng.
Vé vào ngọn Thủy Sơn cho người lớn là 40.000 đồng mỗi lượt, vào động Âm Phủ là 20.000 đồng. Cửa mở từ 07:00 đến 17:00 hằng ngày. Vào Thủy Sơn bạn mua vé lên cổng 1 hoặc cổng 2; nếu đi thang máy thì mua thêm vé thang máy 15.000 đồng mỗi lượt. Bảng giá này lấy từ thông báo của ban quản lý; trước khi đi, bạn nên mang tiền mặt dư một chút phòng giá thay đổi.
Người Nhật và người Hoa buôn bán ở Hội An để lại nhiều dấu vết khác, bắt đầu từ các hội quán.
Nguồn ảnh
- Các ngọn núi đá vôi của Ngũ Hành Sơn nhìn từ trên cao: Wikimedia Commons — Kuroczynski (opens in a new tab) (CC BY-SA 4.0)
- Tượng đá Vishnu cưỡi Garuda của người Chăm, được ghi là từ Ngũ Hành Sơn: Wikimedia Commons — sailko (opens in a new tab) (CC BY-SA 3.0)
- Hai vị sư chùa Linh Ứng và chùa Tam Thai trong lễ phục, ảnh chụp năm 1920 (Albert Sallet): Wikimedia Commons — Association des Amis du Vieux Hué (AAVH), phạm vi công cộng (opens in a new tab) (Public domain)
- Bưu thiếp đầu thế kỷ 20 “Lối vào hang và núi cẩm thạch, Tourane”: Wikimedia Commons — bưu thiếp của Pierre Dieulefils, phạm vi công cộng (opens in a new tab) (Public domain)
- Một cơ sở điêu khắc đá ở Non Nước: sư tử và tượng Quan Âm bằng đá trắng: Wikimedia Commons — viajar24h.com (opens in a new tab) (CC BY 2.0)
Câu hỏi thường gặp
Ngũ Hành Sơn có mấy ngọn núi?
Sáu ngọn núi đá vôi: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Thổ Sơn, Dương Hỏa Sơn và Âm Hỏa Sơn, trải trên diện tích gần 2 km². Tên gọi nói đến năm ngọn vì hai ngọn Hỏa Sơn tính chung một hành.
Vì sao gọi là núi Non Nước?
Non Nước là tên dân gian của cụm núi, còn người Pháp gọi là núi cẩm thạch. Tên Ngũ Hành Sơn xuất hiện muộn hơn và đã được Lê Quang Định nhắc trong sách năm 1806.
Vì sao người Pháp gọi là núi cẩm thạch?
Albert Sallet đặt tên Les montagnes de marbre dựa vào chất liệu của núi đá. Thực tế đây là núi đá vôi.
Ngũ Hành Sơn được xếp hạng di tích năm nào?
Xếp hạng di tích quốc gia năm 1980, và ngày 24/12/2018 Thủ tướng ký quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.
Vé tham quan Ngũ Hành Sơn bao nhiêu và mở cửa lúc nào?
Vé vào ngọn Thủy Sơn dành cho người lớn là 40.000 đồng mỗi lượt, vào động Âm Phủ là 20.000 đồng, thang máy 15.000 đồng mỗi lượt. Mở cửa từ 07:00 đến 17:00 hằng ngày.
Động Âm Phủ có thật là địa ngục không?
Cảnh âm phủ trong động do con người tưởng tượng và tạc bằng đá cẩm thạch dưới chân ngọn Thủy Sơn. Động có từ thời vua Minh Mạng.
Ngũ Hành Sơn cách Đà Nẵng bao xa?
Khoảng 11 km về phía Đông Nam, phía đông giáp biển Non Nước và phía nam giáp đô thị cổ Hội An.
Làng đá Non Nước có từ bao giờ?
Làng nghề hình thành từ đầu thế kỷ XVII, do nghệ nhân từ Thanh Hóa và Nghệ An vào xứ Quảng lập nên.
Đọc tiếp
- Thánh địa Mỹ Sơn: lịch sử, kiến trúc, giá vé và cách điKiểm tra ngày 18/10/2026
- Lịch sử Hội An: thương cảng Faifo, Chùa Cầu và phố cổKiểm tra ngày 18/10/2026
- Đà Nẵng 1858: tấn công cửa biển qua tranh, bản đồ và châu bảnKiểm tra ngày 18/10/2026
- Phố cổ Hội An: lịch sử, nhà cổ, hội quán, đêm rằm và giá véKiểm tra ngày 18/10/2026
Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).
Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.