Người Cơ Tu ở Quảng Nam: nhà gươl, dệt thổ cẩm, lễ hội
Người Cơ Tu có 74.173 người, sống ở miền núi tây bắc Quảng Nam và tây nam Huế, liền khoảnh với địa bàn người Cơ Tu bên Lào. Trung tâm làng là nhà gươl, ngôi nhà chung cao lớn và đẹp nhất làng. Phụ nữ dệt thổ cẩm nhuộm chàm. Khách có thể ghé làng du lịch cộng đồng Bhơhôồng, cách phố cổ Hội An 80 km, hoặc làng dệt Zara ở xã Tà Bhing.

Mục lục
Người Cơ Tu là ai
Người Cơ Tu sống trên dải núi phía tây Hội An và Đà Nẵng. Theo điều tra ngày 1/4/2019, cả nước có 74.173 người Cơ Tu. Phần lớn ở Quảng Nam: 55.091 người, chiếm 74,2% tổng số người Cơ Tu ở Việt Nam. Thành phố Huế có 16.719 người, chiếm 23,8%.
Quê hương của họ là một vành đai núi cao. Người Cơ Tu cư trú lâu đời ở miền núi tây bắc tỉnh Quảng Nam, tây nam tỉnh Thừa Thiên Huế. Vùng đó liền khoảnh với địa bàn người Cơ Tu bên Lào. Ở Quảng Nam, họ sống chủ yếu ở 3 huyện Nam Giang, Tây Giang và Đông Giang.
Một phần đất Quảng Nam cũ nay thuộc thành phố Đà Nẵng, nên làng Cơ Tu được ghi dưới cả hai tên gọi. Muốn hiểu phía đồng bằng, đọc trước lịch sử Hội An.
Tiếng nói và chữ viết
Tiếng Cơ Tu thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me, ngữ hệ Nam Á. Nó gần gũi với tiếng Tà Ôi và Bru - Vân Kiều.
Năm 1957, người Cơ Tu chính thức có chữ viết riêng của dân tộc mình. Có một loại hình nói - hát nổi bật: nói lý, hát lý. Đây là một trong những sản phẩm văn hóa phi vật thể đặc trưng của người Cơ Tu. Nghệ thuật này được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2015.
Muốn nghe thì phải vào buổi tối. Già làng ngồi bên bếp lửa, uống rượu tà vạt và kể chuyện sử thi. Trong lễ hội, lời lý thành cuộc đối đáp: các già làng tụ họp uống rượu cần và thi tài hát lý.
Đời sống thường ngày: nương rẫy, gùi và bữa ăn
Làm rẫy là chính. Bà con phát cây bằng rìu và dao quắm, rồi đốt. Mỗi năm chỉ gieo trồng một vụ. Nguồn thực phẩm hàng ngày chủ yếu do hái lượm, săn bắn và đánh bắt cá đưa lại.
Nghề đan lát phát triển rộng khắp. Gùi đeo sau lưng nhờ đôi quai quàng vào hai vai. Đàn ông có riêng loại gùi ba ngăn, gọi là gùi cánh dơi.
Ngày thường người Cơ Tu ăn cơm tẻ, ngày lễ hội có thêm cơm nếp. Họ thích các món nướng, ướp và ủ trong ống tre. Gia tài được tính bằng chiêng ché, trâu, đồ trang sức và vải.
Bộ y phục được ưa chuộng nhất là vải dệt nền đen. Thổ cẩm được mặc trong lễ hội, ngày tết, đám cưới, đám tang và các sự kiện trọng đại. Người Cơ Tu ở Đà Nẵng hiện nay bảo tồn tương đối tốt trang phục truyền thống và phục hồi được nghề dệt thổ cẩm.
Tết theo làng, vào khoảng tháng Giêng, tháng Hai dương lịch, sau mùa tuốt lúa. Nay nhiều nơi tổ chức Tết vào dịp Tết Nguyên đán.
Ngôi làng và nhà gươl
Làng Cơ Tu có dáng một vòng tròn. Nhà ở là nhà sàn, mái uốn khum ở hai hồi, tựa dáng mai rùa. Toàn bộ nhà trong làng dựng thành một vòng, quây quanh khoảng trống ở giữa.
Giữa khoảng trống ấy là ngôi nhà mà làng nào cũng có: nhà chung gươl. Đó là ngôi nhà cao lớn và đẹp nhất làng. Gươl theo tiếng Cơ Tu có nghĩa là cộng đồng. Cũng như nhà rông Tây Nguyên hay đình làng người Việt, nhà gươl ra đời từ nhu cầu hội họp và sinh hoạt cộng đồng.
Kiểu nhà thì đơn giản. Gươl lớn hay nhỏ, mái dài hay mái tròn như chiếc nón, đều chỉ có một cột chính, gọi là cột bố. Sạp nhà làm bằng gỗ và tre nứa chắc chắn, đủ rộng để đón bà con khắp thôn làng.
Cái cột mang ý nghĩa. Cột to chính giữa gươl thể hiện trái tim của làng. Nó được gọi là cột bố vì người Cơ Tu theo chế độ phụ hệ. Xung quanh cột bố là những cây cột mẹ.
Gươl còn là chỗ trú ẩn. Dân làng tụ tập ở đây khi gặp bão lốc, lũ lụt. Người Cơ Tu khi sinh ra hay khi mất đi đều làm lễ ở gươl. Theo truyền thống, gươl lớn nhỏ, cầu kỳ hay giản đơn là cách thể hiện sự đoàn kết hay rời rạc của cộng đồng.
Chạm khắc, màu sắc và con trâu
Đàn ông là người chạm khắc. Họ trang trí nhà mồ và nhà gươl bằng hình đầu trâu, chim, rắn, thú rừng, gà. Nghệ nhân khéo léo đục đẽo nên những bức tranh gỗ và những bức tượng đầy màu sắc bằng dụng cụ giản đơn.
Hai màu chủ đạo là chàm đen và đỏ. Màu chàm đen lấy từ cây tà râm và củ ma rớt, là màu của đất. Màu đỏ lấy từ củ nâu, là màu của mặt trời. Để khôi phục nghề điêu khắc, các nghệ nhân cùng chính quyền các cấp đã sưu tầm tác phẩm và tổ chức lớp truyền dạy.
Gươl có hai biểu tượng không thể thiếu: chú gà trống và con trâu. Mỗi bức điêu khắc trong gươl đều có bóng dáng con trâu. Gươl lớn đến đâu, hình tượng con trâu vẫn được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Đó là sức mạnh cộng đồng làng và sự thân thuộc giữa con trâu với người dân.

Ở đây trâu không phải con vật cày kéo. Người Cơ Tu vùng cao Quảng Nam làm lúa rẫy và hoàn toàn không dùng trâu để sản xuất lương thực. Con trâu thuộc về nghi lễ: lễ mừng lúa mới, cúng đất lập làng, đám cưới, đám hỏi, kết nghĩa ăn thề.
Nhà mồ cho thấy mối liên hệ ấy rõ nhất. Nhà mồ làm bằng gỗ đẹp, cầu kỳ, có nhiều hình trang trí đẽo tạc và vẽ. Hình tượng con trâu còn xuất hiện trên quan tài trong nhà mồ. Ở Làng truyền thống Tây Giang, hai đầu trâu đặt ở hai đầu quan tài và ở một phía đầu hồi nóc nhà mồ.
Thổ cẩm: chàm, cườm và khung dệt
Phụ nữ Cơ Tu ai cũng biết dệt thổ cẩm từ bé. Họ dệt các đồ án hoa văn bằng sợi màu, với họa tiết hình học. Kỷ hà ở đây gồm hình tam giác, hình tròn, hình ô trám, đường gấp khúc.
Nghề dệt là một chuỗi khép kín, làm hoàn toàn bằng tay. Các công đoạn gồm trồng bông, gai, đay, xe sợi, nhuộm, dệt vải, tạo hoa văn, tra cườm, thêu, may trang phục. Khung dệt đơn giản, làm bằng các thanh gỗ, tre, nứa kết hợp lại.
Màu chàm mất cả tuần. Thân, lá cây tà râm được giã nát, ngâm trong ché khoảng một tuần, rồi vắt bã lấy nước nhuộm. Ngâm sợi bông trắng khoảng 10 ngày sẽ cho ra sợi vải màu chàm đặc trưng. Phụ nữ mang thai không được tham gia quy trình tạo màu, nhuộm chàm sợi vải.
Muốn dệt một chuỗi hoa văn cườm, người dệt phải cắt sợi ngang, rồi tùy theo tưởng tượng, sáng tạo mà chèn các hạt cườm vào cho phù hợp. Nghề dệt thổ cẩm của người Cơ Tu (Quảng Nam) đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Thành quả có thể mua được. Làng dệt thổ cẩm Zara ở xã Tà Bhing vẫn bảo tồn nguyên vẹn những kỹ thuật dệt lâu đời. Làng có khoảng 40 sản phẩm như áo, khố, váy quấn, khăn choàng, tấm đắp, túi xách. Sản phẩm đã được công nhận OCOP 3 sao.

Cồng chiêng, múa và hát
Trong lễ hội, nữ múa Dạ dạ, nam múa Ting tung. Nhạc cụ thường thấy là bộ chiêng 3 chiếc, cồng, trống, sáo, đàn, nhị.
Điệu nổi tiếng nhất là tung tung da dá, theo tiếng Cơ Tu có nghĩa là “Vũ điệu dâng Trời”. Đàn ông mặc khố, choàng áo dệt bằng thổ cẩm, đi chân trần, tay nắm chắc khiên và giáo. Phụ nữ mặc váy thổ cẩm nhiều màu sắc, vai trần, cổ đeo vòng cườm. Họ múa chân trần, vừa nhón gót vừa xoay tròn ngược chiều kim đồng hồ.
Các điệu múa này diễn ra trước sân gươl. Bà, mẹ và các cô gái múa với đôi tay giơ lên trời, cầu xin hạt lúa thiêng và tạ ơn Thần Lúa cho mùa bội thu. Chàng trai một tay cầm khiên, một tay cầm giáo, múa những động tác mạnh mẽ, uy nghi.
Lễ mừng lúa mới
Mỗi năm vào tháng Mười hoặc tháng Mười Một, ruộng bậc thang của người Cơ Tu chín và nhuộm vàng rực. Lễ hội sau đó thường được tổ chức sau mỗi mùa thu hoạch, mang ý nghĩa tạ ơn thần linh, đặc biệt là thần lúa Giàng Haro. Người địa phương gọi nghi lễ này là lễ Cha ha roo tamêê.
Cuối tháng 6/2025, lễ hội Mừng lúa mới của đồng bào Cơ Tu ở các xã Khe Tre, Nam Đông, Long Quảng (TP. Huế) được ghi danh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Lưu ý địa danh: bản ghi danh này thuộc Huế, không phải Quảng Nam.
Lễ đâm trâu hôm nay
Lễ đâm trâu xưa đã đổi khác, và người đi xem nên biết điều đó. Từ năm 2013, chính quyền huyện Tây Giang thuyết phục bà con người Cơ Tu bỏ dần phong tục này. Tây Giang đã đi đầu trong việc cải tiến lễ hội.
Nay con trâu được đưa ra làm lễ, rồi được đưa đi nơi khác giết mổ, không bị đâm như ngày trước. Từ năm 2016, 90 làng trên địa bàn huyện không tổ chức đâm trâu như xưa nữa. Tết năm 2019, một làng không đâm trâu như các năm trước nhưng vẫn giữ nguyên trạng lễ hội. Lễ hội vẫn giữ lại cái hồn, chỉ thay đổi một số nét liên quan đến con trâu.
Ở lễ mừng lúa mới tại Huế, nghi lễ được tái hiện bằng con trâu chế tác từ xốp, mang tính tượng trưng.
Đi đâu để gặp người Cơ Tu
Các bản dưới đây đều xa bờ biển, nên chọn một nơi thay vì đi dàn trải.
Bhơhôồng (xã Sông Kôn, TP Đà Nẵng). Làng thuộc huyện Đông Giang của Quảng Nam cũ, chính thức mở hoạt động du lịch từ năm 2013. Làng cách phố cổ Hội An 80 km, cách trung tâm Đà Nẵng 70 km, có hơn 700 nhân khẩu. Trên 50% số hộ làm nghề dệt thổ cẩm và đan lát mây tre.
Chuyến thăm xoay quanh ngôi nhà gươl ở trung tâm, bốn nhà Moong bao quanh tái hiện dáng dấp làng cổ của người Cơ Tu. Du khách được thưởng thức ẩm thực truyền thống, múa tâng tung dá dá, nhạc cụ và hát giao duyên, học bắn nỏ, đan lát, lưu trú homestay. Bạn có thể ở nhà dân làng, trải nghiệm sinh hoạt đời thường, học tiếng Cơ Tu và đốt lửa trại. Cách làng không xa có suối nước nóng A Păng.
Làng dệt Zara (xã Tà Bhing). Nơi xem dệt thổ cẩm và mua sản phẩm. Xem phần thổ cẩm ở trên.
Pơr’ning. Làng trên đỉnh Trường Sơn, khách đến phần lớn là “khách Tây” từ Hội An lên hoặc những nhóm bạn trẻ ưa khám phá. Gươl ở đây là trái tim của làng. Trồng cây dược liệu bản địa như ba kích, đẳng sâm đã trở thành thế mạnh kinh tế của người dân.
Làng truyền thống Tây Giang. Nơi diễn ra các lễ hội truyền thống. Ở huyện Tây Giang, 100% làng đều có nhà gươl.
Người Cơ Tu ở Đà Nẵng. Không phải người Cơ Tu nào cũng ở vùng cao. Người Cơ Tu vùng thấp (Cơ Tu Phương/Ếp) sống ở 3 thôn: Phú Túc, Tà Lang, Giàn Bí. Sau sáp nhập, thôn Phú Túc thuộc xã Bà Nà, thôn Tà Lang và Giàn Bí thuộc phường Hải Vân.
Cả hai thôn Giàn Bí, Tà Lang đều có nhà làng truyền thống gươl. Đồng bào dùng vật liệu sẵn có trong thiên nhiên như cỏ tranh, lá mây lá cọ, tre nứa, gỗ. Nhà làng còn có chức năng như một bảo tàng thu nhỏ, giữ gùi, giỏ bắt cá, vợt xúc cá, nia hình giọt nước, vỏ bầu khô, cối chày giã gạo, công cụ săn bắt, nhạc cụ. Đồng bào còn dựng một số nhà moong (nhà rẫy) để sinh hoạt, trưng bày hiện vật, nông sản và đặc sản trong dịp lễ hội.
Đọc tiếp
Vùng biển kể nửa câu chuyện còn lại. Đọc lịch sử Hội An và phố cổ Hội An để biết thương cảng. Rồi đi vào nội địa với thánh địa Mỹ Sơn và tháp Chăm ở Quảng Nam.
Nguồn ảnh
- Mô hình nhà gươl, ngôi nhà chung của người Cơ Tu: Wikimedia Commons — Binh Giang (opens in a new tab) (Public domain)
- Nhà mồ Cơ Tu có đầu trâu trên nóc, dựng lại trong khuôn viên Bảo tàng Dân tộc học ở Hà Nội: Wikimedia Commons — Hungda (opens in a new tab) (CC BY-SA 3.0)
- Vải dệt và gùi của người Katu (Cơ Tu) bên kia biên giới, ở làng Lao Ngam, Lào: Wikimedia Commons — Pierre André Leclercq (opens in a new tab) (CC BY-SA 4.0)
Câu hỏi thường gặp
Người Cơ Tu có bao nhiêu người và sống ở đâu?
Theo điều tra ngày 1/4/2019, người Cơ Tu có 74.173 người. Quảng Nam có 55.091 người, chiếm 74,2% tổng số người Cơ Tu ở Việt Nam, còn thành phố Huế có 16.719 người. Họ cư trú lâu đời ở miền núi tây bắc Quảng Nam, tây nam Thừa Thiên Huế, liền khoảnh với địa bàn người Cơ Tu bên Lào.
Nhà gươl là gì?
Gươl theo tiếng Cơ Tu có nghĩa là cộng đồng. Mỗi làng có một ngôi nhà gươl làm nhà chung, cao lớn và đẹp nhất làng. Nhà chỉ có một cột chính, gọi là cột bố.
Người Cơ Tu nói tiếng gì?
Tiếng Cơ Tu thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me, ngữ hệ Nam Á, gần gũi với tiếng Tà Ôi, Bru - Vân Kiều. Năm 1957, người Cơ Tu chính thức có chữ viết riêng.
Muốn gặp người Cơ Tu thì đến đâu?
Làng du lịch cộng đồng Bhơhôồng ở xã Sông Kôn, thành phố Đà Nẵng, cách phố cổ Hội An 80 km, cách trung tâm Đà Nẵng 70 km. Khách có thể ở homestay của dân làng, cùng trải nghiệm sinh hoạt đời thường, học tiếng Cơ Tu và đốt lửa trại. Ngay trong Đà Nẵng, người Cơ Tu vùng thấp sống ở 3 thôn.
Người Cơ Tu còn đâm trâu trong lễ hội không?
Từ năm 2016, 90 làng của huyện Tây Giang không tổ chức đâm trâu như xưa nữa. Bà con vẫn mang trâu ra làm lễ rồi dắt vào giết thịt. Ở lễ mừng lúa mới tại Huế, nghi lễ được tái hiện bằng con trâu làm bằng xốp.
Thổ cẩm Cơ Tu có gì đặc biệt?
Vải dệt thủ công, sợi nhuộm chàm từ cây tà râm và đính cườm. Phụ nữ Cơ Tu ai cũng biết dệt thổ cẩm từ bé. Nghề dệt thổ cẩm của người Cơ Tu (Quảng Nam) đã vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Đọc tiếp
- Lịch sử Hội An: thương cảng Faifo, Chùa Cầu và phố cổKiểm tra ngày 18/10/2026
- Phố cổ Hội An: lịch sử, nhà cổ, hội quán, đêm rằm và giá véKiểm tra ngày 18/10/2026
- Thánh địa Mỹ Sơn: lịch sử, kiến trúc, giá vé và cách điKiểm tra ngày 18/10/2026
- Tháp Chăm ở Quảng Nam ngoài Mỹ Sơn: Bằng An, Khương Mỹ, Chiên ĐànKiểm tra ngày 18/10/2026
Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).
Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.