Làng mộc Kim Bồng Hội An: lịch sử, hiệp thợ, giỗ tổ nghề
Làng mộc Kim Bồng nằm bên kia sông Thu Bồn, cách trung tâm Hội An 1,31 km theo đường chim bay. Truyền miệng của các tộc Nguyễn, Phan, Huỳnh, Trương kể thủy tổ nghề gốc Thanh Hóa, vào lập nghiệp thế kỷ XVI. Thợ làng giữ vai trò chính trong việc dựng nhà phố, nhà thờ tộc, đình, chùa, miếu ở Hội An, và có người được triều Nguyễn gọi ra Huế. Giỗ tổ nghề diễn ra mồng 6 tháng Giêng âm lịch tại đình Tiền hiền.

Mục lục
- Kim Bồng là làng nào
- Thợ mộc từ đâu đến
- Bốn nhánh nghề và mỗi thôn một sở trường
- Hiệp thợ: nghề được tổ chức thế nào
- Thợ Kim Bồng và phố cổ Hội An
- Từ Kim Bồng ra Huế
- Dựng một ngôi nhà gỗ ở Kim Bồng
- Đóng ghe bầu và tàu cá
- Đình Tiền hiền: nhà của tổ nghề
- Giỗ tổ mồng 6 tháng Giêng
- Những ghi nhận
- Đi thăm làng
- Đọc tiếp
- Câu hỏi thường gặp
Kim Bồng là làng nào
Kim Bồng nằm bên kia sông Thu Bồn, phía bắc đối diện phố cổ Hội An. Tính theo đường chim bay, làng cách trung tâm Hội An 1,31 km về phía tây nam. Nước ôm làng ba mặt, làng lại nằm sát đô thị thương cảng quốc tế Hội An. Đó là chỗ đứng đẹp cho một làng thợ: có sông để chở gỗ về, có phố cảng đông khách để làm ra đồ bán. Ngày nay làng thuộc phường Hội An, thành phố Đà Nẵng, trước đây là xã Cẩm Kim, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam cũ. Ngày xưa, Kim Bồng là một châu thuộc huyện Duy Xuyên.
Bài này kể về người thợ: họ từ đâu đến, tổ chức nghề thế nào, dựng nên những gì ở Hội An, rồi cách bạn qua sông để tận mắt xem. Bối cảnh cả vùng nằm ở lịch sử Hội An, còn các công trình thợ làng từng sửa ở hội quán Hội An và Chùa Cầu.
Thợ mộc từ đâu đến
Truyền miệng của con cháu các tộc Nguyễn, Phan, Huỳnh, Trương ở Cẩm Kim kể rằng thủy tổ nghề mộc làng là người gốc Thanh Hóa, vào đây lập nghiệp thế kỷ XVI. Cụ thể hơn, khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, trong đoàn người đi mở đất có các tiền nhân của bốn tộc Nguyễn, Huỳnh, Phan, Trương, và họ chọn đất Kim Bồng làm nơi lập làng. Đến nay các dòng họ như Trương, Huỳnh ở Kim Bồng đã trải qua 15, 16 thế hệ.
Những người thợ đầu tiên bắt đầu từ nhà tranh tre cổ truyền, rồi làm lên nhà khung gỗ thông thường. Hội An cuối thế kỷ 16 đến thế kỷ 17 nhanh chóng thịnh vượng, và nghề mộc của làng có đất để lớn theo phố cảng.
Thợ Kim Bồng không chỉ giỏi tay mà còn biết học. Họ tiếp thu kỹ thuật đóng thuyền của người Chăm, tiếp thu kiến trúc dân dụng, tín ngưỡng và cách làm đồ gia dụng của người Hoa, người Nhật. Chuyện dân gian còn nhắc Thầy Thiếm, một đôi vợ chồng pháp sư người Chăm chuyên đóng ghe bầu cho người Việt. Đó là chuyện dân gian, không phải sử.
Bốn nhánh nghề và mỗi thôn một sở trường
Nghề mộc Kim Bồng chia làm bốn nhánh: mộc xây dựng, mộc gia dụng, mộc mỹ nghệ và mộc đóng ghe thuyền. Mỗi thôn nghiêng về một nhánh. Thôn Trung Châu, Phước Thắng chuyên đồ mộc mỹ nghệ và xây dựng. Thôn Đông Hà, Ngọc Thành thiên về đóng ghe thuyền. Thôn Trung Hà, Vĩnh Thành là nơi phát nghiệp của mộc gia dụng.
Ngoài mộc, làng còn đan tre, làm guốc, dệt chiếu, trồng dâu. Vì thế khi đi làng bạn gặp cả thợ chạm lẫn người dệt chiếu, đan thúng.

Hiệp thợ: nghề được tổ chức thế nào
Chữ “hiệp thợ” nghe cổ, nhưng nó có thật. Các hiệp thợ của làng tập trung về đình Tiền hiền để cúng tổ nghề vào mồng 6 tháng Giêng âm lịch. Về mặt tổ chức, thợ Kim Bồng làm việc theo hai cách: thợ hành nghề riêng lẻ và thợ lập trại, tức cơ sở sản xuất. Trại nhỏ chỉ 2 đến 5 người, trại lớn từ 15 đến 50 người.
Trong trại, chủ trại là người thợ cả: vừa lo tiền bạc, giao dịch, nhận thầu, vừa trả lương cho thợ. Người mới vào nghề bắt đầu từ việc đơn giản như mài lưỡi cưa, bào, đục. Học trò không có lương, chỉ được chủ lo cơm nước. Muốn thành thợ mộc lành nghề thường mất 3 đến 5 năm. Muốn thành nghệ nhân thì phải rèn tay nghề từ 15 đến 20 năm.
Nghề nặng nhọc và nguy hiểm nên hầu như chỉ có đàn ông theo. Một vài cơ sở có thợ nữ, chủ yếu lo hoàn thiện và đánh bóng sản phẩm.
Chữ “hiệp thợ” cũng có tiền lệ trong sử cũ. Trên Bình Nam đồ, tấm bản đồ vẽ hoàn chỉnh vào thế kỷ XVII thời các chúa Nguyễn, có ghi địa danh Chu Tượng. Chu Tượng có thể hiểu là xưởng đóng ghe, nơi các hiệp thợ chuyên đóng ghe thuyền cư trú, hành nghề. Sang thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn ghi huyện Duy Xuyên, nơi Kim Bồng thuộc về, có 10 xã, 11 thôn, 40 phường và 1 tộc chuyên về đóng ghe.
Thợ Kim Bồng và phố cổ Hội An
Ngước nhìn bộ vì kèo trong một nhà cổ hay một hội quán ở Hội An, bạn đang nhìn vào tay nghề Kim Bồng. Mộc Kim Bồng giữ vai trò chính trong việc dựng nhà phố, nhà thờ tộc, đình, chùa, miếu ở Hội An. Những công trình thợ làng tu bổ, tôn tạo được ghi lại gồm khám thờ Thiên Hậu ở Hội quán Ngũ Bang, cùng chùa Chúc Thánh, chùa Phước Lâm, nhà thờ tộc Phạm, Tụy Tiên Đường Minh Hương và Khổng Tử Miếu.
Hãy nhớ các địa chỉ đó khi đi phố cổ. Câu chuyện từng hội quán nằm ở hội quán Hội An, còn đường đi quanh phố ở phố cổ Hội An. Chùa Cầu cũng là đề tài quen của làng: một bức phù điêu Chùa Cầu của thợ Kim Bồng từng đạt huy chương đồng toàn quốc năm 1987, và mô hình Chùa Cầu, nhà cổ, nhà rường, ghe bầu là những món mỹ nghệ của làng.
Đồ chạm của Kim Bồng không chỉ nằm trong phố. Cùng với gốm Thanh Hà, đồ mộc chạm trổ Kim Bồng được các lái buôn phương Tây mua số lượng lớn đem bán lại cho Nhật Bản và Mã Lai. Một số sản phẩm mỹ nghệ ngày nay vẫn xuất sang châu Âu, Bắc Mỹ và Úc.
Từ Kim Bồng ra Huế
Tay nghề ấy đi xa hơn Hội An. Nhiều thợ mộc của làng được triều đình nhà Nguyễn chiêu mộ ra Huế xây cung điện, lăng tẩm cho các vua, được phong danh Công tượng, phong hàm Bát phẩm, Cửu phẩm. Với một người thợ làng, đó là một danh dự lớn.
Dựng một ngôi nhà gỗ ở Kim Bồng
Mộc xây dựng là nhánh làm nên bản sắc riêng của thương hiệu Kim Bồng, và quy trình của nó có cả phần lễ. Thợ cho cưa xẻ gỗ theo từng bộ phận của ngôi nhà, rồi làm lễ phạt mộc: bào nhẵn cây đòn đông và giữ lại ít dăm bào để sau này làm lễ đưa dăm tống mộc.
Gỗ lim và kiền kiền được dùng nhiều nhất để làm nhà. Gỗ mua ở thượng nguồn sông Thu Bồn như Trà My, Tiên Phước, kết thành bè thả xuôi về các bến của làng. Trên trính, kèo, đòn tay, thợ chạm các đồ án bát bửu, tứ thời, phúc, lộc, thọ, vì vỏ cua, cá chép. Khi ngắm một ngôi nhà cổ, hãy nhìn lên những đường chạm ấy.

Đóng ghe bầu và tàu cá
Kim Bồng cũng là làng đóng ghe. Thợ ghe giữ nhiều lễ riêng: phạt mộc, giáp ghim, dằng đà, phủ bì, điểm nhãn, hạ thủy, đưa dăm tống mộc. Một chiếc ghe kết thúc bằng việc xảm kín khe hở bằng sợi tre trộn dầu rái, chai phà, rồi điểm nhãn và hạ thủy.
Gỗ đóng ghe được để nguyên tảng, ngâm dưới nước một đến hai tháng cho quen nước. Những thanh gỗ to và dài được ép qua lửa ở nhiệt độ cao để uốn cong thân tàu. Nghề đóng ghe bầu ở Kim Bồng tiếp biến được nhiều giá trị của châu Âu, Trung Quốc và Chămpa.
Tàu thuyền làm ở Kim Bồng nổi tiếng bền chắc, chịu sóng gió tốt, tuổi thọ hơn 20 năm. Những năm 70 đến 80 của thế kỷ trước, chủ tàu ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Bình Định tìm đến Kim Bồng đặt tàu đánh cá lớn. Ngày nay các cơ sở còn đóng cả tàu du lịch.
Đình Tiền hiền: nhà của tổ nghề
Đình Tiền hiền nằm cạnh chùa Kim Bửu. Đình do chính tay nghệ nhân làng mộc dựng nên. Dựa vào các xà có ghi niên đại, đình được xây vào năm Tự Đức thứ sáu (1853), rồi trùng tu vào năm Duy Tân thứ tám (1914) và Bảo Đại (1941). Đình được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh năm 2008. Nhà thờ tộc Phan Xuân của làng được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1991.
Đình quay về hướng nam, phía trước sân có tam quan và bốn trụ biểu. Nếp nhà chính gồm ba gian, hai lòng và mái hiên. Giữa lòng nhất đặt một hương án bằng gỗ cao khoảng 1,2 m, sơn son thếp vàng. Phía sau hương án, trên cao, treo bức hoành đề ba chữ Hán “Thánh Tổ miếu”. Gian tiền đình còn một hương án niên đại 1827.
Đình thờ các vị tiền hiền khai canh của bốn tộc Nguyễn, Huỳnh, Phan, Trương. Ngày 20 tháng Chạp, người dân họp mặt tất niên kết hợp giỗ Tiền hiền ngay tại đây.
Giỗ tổ mồng 6 tháng Giêng
Đây là ngày của cả làng nghề. Mồng 6 tháng Giêng âm lịch, tại đình Tiền hiền diễn ra lễ tế tổ nghề mộc, kèm phối tế Thành Hoàng, Tiền hiền và âm linh. Thợ đi làm xa về quê ăn Tết, đều góp tay lo việc tế tổ. Lễ vật thường có đầu heo và gà luộc nguyên con còn chân.
Trong lễ có tục lấy mực đầu năm, tức đo gỗ mở đầu một năm làm nghề. Sau lễ cúng, người ta xem hình thế chân gà để đoán sự lành dữ của làng nghề trong năm mới. Ngày này cũng được xem là ngày mở hàng khai trương của các kíp thợ.
Về thờ tự, thợ Kim Bồng không có tổ nghề riêng. Họ thờ chung Lỗ Ban, Lỗ Bốc, và nhà làm mộc nào cũng có bàn thờ tổ nghề ở chỗ trang trọng nhất trong nhà. Phần hội đi kèm từng có đua ghe, nhảy bao bố, đập om, hô hát bài chòi và hội chợ ẩm thực.

Những ghi nhận
Năm 2000, Văn phòng UNESCO châu Á - Thái Bình Dương trao giải “Dự án kiệt xuất về hợp tác bảo tồn khu phố cổ”. Năm 2001, tổ chức này tiếp tục trao giải “Thành tựu đặc biệt” cho kết quả bảo tồn làng mộc Kim Bồng. Năm 2005, Kim Bồng được công nhận là làng nghề truyền thống. Tháng 6/2016, nghề mộc Kim Bồng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Đi thăm làng
Đường đi. Từ bến đò Hội An, thuyền qua sông Thu Bồn khoảng 15 phút là tới khu làng nghề. Bạn cũng có thể đi bằng đường sông hoặc đường bộ đến khu vực trung tâm làng nghề.

Xem gì. Chương trình hướng dẫn tham quan gồm giới thiệu lịch sử, văn hóa làng mộc và tham quan nhà trưng bày làng nghề truyền thống. Ở nhà trưng bày có trình diễn các nghề của làng xưa như dệt chiếu, đan thúng chai, đan rổ bội. Bạn cũng có thể xem các cơ sở đóng, sửa tàu và ghé chợ Cẩm Kim, nơi thấy nhịp sống thường ngày của người dân.
Vé. Khi chương trình tham quan được triển khai, vé người lớn là 35.000 đồng. Đoàn 15 khách được giảm một vé. Trẻ em ở Hội An được miễn vé, trẻ em nơi khác giảm 50%. Khách có vé nhận một sản phẩm lưu niệm làm từ nghề truyền thống của Cẩm Kim. Hãy hỏi lại giá tại trung tâm làng nghề trước khi đi, vì mức vé có thể đã đổi.
Khi nào đi. Đầu năm có giỗ tổ và lễ hội. Năm 2026, Ngày hội Làng nghề truyền thống Kim Bồng khai mạc tại Trung tâm Làng nghề Kim Bồng, và lễ tế Tiền hiền diễn ra sáng 28/2 tại đình Tiền hiền. Ngày hội trưng bày, trình diễn mộc, điêu khắc tre, đóng ghe, đan túi xách, đan thúng, tráng mì, chẻ lác, dệt chiếu, có chợ quê Kim Bồng và đua ghe ngang.
Kim Bồng là điểm dừng hợp nhất cho buổi sáng. Buổi trưa quay về phố cổ, một tô cao lầu sẽ nối tiếp câu chuyện thương cảng mà bạn vừa đi qua.
Đọc tiếp
Lịch sử Hội An cho bối cảnh thương cảng, hội quán Hội An và Chùa Cầu cho những công trình mà thợ Kim Bồng từng đặt tay vào, và sông Hoài cho dòng nước nuôi cả phố cảng.
Nguồn ảnh
- Cổng làng Kim Bồng nhìn từ dưới sông: Wikimedia Commons — Dragfyre (opens in a new tab) (CC BY-SA 3.0)
- Thợ chạm đang làm việc ở Kim Bồng: Wikimedia Commons — Dragfyre (opens in a new tab) (CC BY-SA 3.0)
- Những đầu tượng gỗ, một sản phẩm mộc mỹ nghệ của làng: Wikimedia Commons — Dragfyre (opens in a new tab) (CC BY-SA 3.0)
- Biển xưởng dạy nghề điêu khắc gỗ do UNESCO tài trợ: Wikimedia Commons — Dragfyre (opens in a new tab) (CC BY-SA 3.0)
- Chuyến đò qua sông Thu Bồn giữa Hội An và Kim Bồng: Wikimedia Commons — Dragfyre (opens in a new tab) (CC BY-SA 3.0)
Câu hỏi thường gặp
Làng mộc Kim Bồng ở đâu, cách phố cổ Hội An bao xa?
Làng nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, cách trung tâm Hội An 1,31 km theo đường chim bay về phía tây nam. Từ bến đò Hội An, đi thuyền qua sông khoảng 15 phút là tới.
Làng mộc Kim Bồng có từ khi nào?
Truyền miệng của các tộc Nguyễn, Phan, Huỳnh, Trương kể thủy tổ nghề gốc Thanh Hóa, vào đây lập nghiệp thế kỷ XVI. Các tiền nhân của bốn tộc này chọn đất Kim Bồng lập làng khoảng cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI.
Thợ Kim Bồng đã làm những công trình nào ở Hội An?
Mộc Kim Bồng giữ vai trò chính trong việc dựng nhà phố, nhà thờ tộc, đình, chùa, miếu ở Hội An. Thợ làng từng tu bổ khám thờ Thiên Hậu ở Hội quán Ngũ Bang, chùa Chúc Thánh, chùa Phước Lâm, Tụy Tiên Đường Minh Hương và Khổng Tử Miếu.
Giỗ tổ nghề mộc Kim Bồng tổ chức ngày nào?
Ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch, tại đình Tiền hiền. Ngày này cũng được xem là ngày mở hàng của các kíp thợ.
Vé tham quan làng mộc Kim Bồng bao nhiêu?
Khi hoạt động hướng dẫn tham quan được triển khai, vé người lớn là 35.000 đồng, khách có vé được tặng một sản phẩm lưu niệm từ nghề truyền thống của xã Cẩm Kim. Trẻ em ở Hội An được miễn vé, trẻ em nơi khác giảm 50%.
Nghề mộc Kim Bồng được công nhận di sản khi nào?
Tháng 6/2016, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận nghề mộc Kim Bồng là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trước đó, năm 2005, Kim Bồng được công nhận là làng nghề truyền thống.
Thợ Kim Bồng chỉ làm đồ mộc thôi sao?
Không. Nghề chia làm bốn nhánh: mộc xây dựng, mộc gia dụng, mộc mỹ nghệ và đóng ghe thuyền. Làng còn có đan tre, làm guốc, dệt chiếu, trồng dâu.
Đọc tiếp
- Lịch sử Hội An: thương cảng Faifo, Chùa Cầu và phố cổKiểm tra ngày 18/10/2026
- Hội quán Hội An: năm bang người Hoa và những ngôi nhà chungKiểm tra ngày 18/10/2026
- Chùa Cầu Hội An: lịch sử, kiến trúc, tượng chó khỉ, truyền thuyếtKiểm tra ngày 18/10/2026
- Phố cổ Hội An: lịch sử, nhà cổ, hội quán, đêm rằm và giá véKiểm tra ngày 18/10/2026
Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).
Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.