Di sản

Hội quán Hội An: năm bang người Hoa và những ngôi nhà chung

Hội An có năm hội quán của người Hoa: Phúc Kiến, Trung Hoa, Triều Châu, Quỳnh Phủ và Quảng Triệu, do các bang Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam và Gia Ứng lập nên. Bốn bang có hội quán riêng, bang Gia Ứng dùng chung hội quán Trung Hoa. Hội quán Phúc Kiến khởi dựng từ năm 1697, hội quán Triều Châu từ khoảng năm 1845; năm xây hội quán Quảng Triệu vẫn còn tranh luận.

Ảnh xưa năm vị chức việc các bang người Hoa ở Faifo ngồi và đứng trước cửa hai cánh có câu đối chữ Hán.
Các vị đứng đầu bang người Hoa ở "Fei-Foo", ảnh chụp giữa năm 1891 và 1898.
Mục lục
  1. Hội quán là gì, và vì sao người Hoa cần chúng
  2. Minh Hương và Ngũ Bang: hai cách làm người Hoa ở Hội An
  3. Năm hội quán trên một con đường
  4. Hội quán Phúc Kiến: lớn nhất, nhiều lớp nhất
  5. Hội quán Trung Hoa: nhà chung của năm bang
  6. Hội quán Triều Châu: chùa Ông Bổn
  7. Hội quán Quỳnh Phủ: chùa Hải Nam
  8. Hội quán Quảng Triệu (Quảng Đông): khi giấy tờ và xà cò không khớp
  9. Năm hội quán xếp theo tuổi
  10. Kiến trúc chung của các hội quán
  11. Miếu Quan Công, người hàng xóm của năm hội quán
  12. Đi xem hội quán
  13. Câu hỏi thường gặp

Hội quán là gì, và vì sao người Hoa cần chúng

Người Hoa đến Hội An theo hai làn sóng lớn. Làn sóng đầu vào đầu thế kỷ XVII, chủ yếu vì buôn bán. Hoa thương từ Phúc Kiến đến sớm nhất và đông nhất. Khi định cư, họ lập năm bang: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam và Gia Ứng.

Hội quán là nơi bang hội họp. Đó là chỗ người Hoa xa quê gặp nhau, trao đổi kinh nghiệm làm ăn, gửi gắm tình cảm. Đó cũng là nơi thờ các vị thần bảo trợ và các bậc tiền hiền của từng bang. Người Hoa dựng bốn hội quán riêng cho bốn bang và một hội quán chung. Bang Gia Ứng không có hội quán riêng, họ sinh hoạt tại hội quán chung là hội quán Trung Hoa.

Nói cách khác, mỗi hội quán vừa là đình làng, vừa là nơi bàn chuyện buôn bán, vừa là chùa của một nhóm đồng hương. Bối cảnh cả thương cảng nằm ở bài Lịch sử Hội An.

Minh Hương và Ngũ Bang: hai cách làm người Hoa ở Hội An

Người Hoa ở Hội An không phải một khối. Nhóm thứ nhất là người Minh Hương, tức người Hoa được chúa Nguyễn Phúc Lan cho phép nhập quốc tịch Đại Việt và lập làng Minh Hương (1645–1653). Nhóm thứ hai không nhập tịch, vẫn giữ quốc tịch Trung Quốc, và người Việt thường gọi họ là Khách trú.

Chính nhóm thứ hai lập ra năm bang và sinh hoạt trong các hội quán. Vì thế người ta còn gọi họ là người Hoa Ngũ Bang. Hội quán Trung Hoa, số 64 đường Trần Phú, là hội quán chung của cả năm bang.

Năm hội quán trên một con đường

Năm hội quán đều nằm ở phía bắc, phía số chẵn của đường Trần Phú, con đường chính của phố cổ. Khoảng cách giữa hai điểm xa nhất của cụm miếu và hội quán chưa đầy 1 km. Đình, chùa của người Việt thì khác: chúng thường ở ngoại vi phố cổ và không dồn thành cụm như vậy.

Các hội quán đều dựng lệch trục Bắc Nam, vì người Hoa rất coi trọng phong thủy và nhờ thầy địa lý xem hướng đất. Khi hội quán được dựng, sông Hội An còn vào tận phía nam đường Trần Phú.

Bức ảnh trên chụp các vị đứng đầu bang người Hoa ở Faifo, giữa năm 1891 và 1898. Ảnh nằm trong album của nhà ảnh Gustave Trumelet-Faber, lưu ở Thư viện Quốc gia Pháp, và ghi tên nơi này là “Fei-Foo”.

Hội quán Phúc Kiến: lớn nhất, nhiều lớp nhất

Số 46 Trần Phú là hội quán Phúc Kiến. Đây là hội quán lớn nhất trong năm hội quán. Diện tích kiến trúc 2000 m2, sâu nhất 100 m và rộng nhất 24 m. Chỉ riêng hội quán này có hậu điện và nhiều cột nhất, 86 cột.

Cổng hội quán Phúc Kiến ở Hội An, mái ngói men xanh, đèn lồng đỏ treo ngang đường.
Cổng hội quán Phúc Kiến.

Hội quán khởi dựng năm 1697 với tên Kim Sơn Tự; từ năm 1757 bang Phúc Kiến tu bổ lớn, đổi tên thành Phước Kiến Hội quán, dùng thờ thần, tiền hiền và hội họp đồng hương. Năm 1697, đúng lúc đô thị thương cảng hưng thịnh, thương nhân Phước Kiến đến Hội An nhiều nên đã mua lại một ngôi chùa cũ ở đó để dựng hội quán. Truyền thuyết kể rằng có một tượng Phật trôi dạt đến, trên tượng có nhiều vàng, dân địa phương lấy vàng thuê người đốn gỗ dựng chùa.

Mái tiền điện của hội quán Phúc Kiến được tạo tác và trang trí công phu nhất. Bờ nóc võng xuống, giống con thuyền đang cưỡi sóng. Trong các xà cò có hai chiếc ghi năm 1849 và một chiếc ghi năm 1895. Chính điện thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị thần phù hộ người đi biển, được tôn là thần chính ở gian giữa. Hậu điện thờ Lục tánh, sáu vị trung thần nhà Minh gốc Phúc Kiến từng nổi dậy chống Thanh nhưng thất bại.

Mỗi năm vào dịp 16 tháng 2 âm lịch, con cháu Phúc Kiến từ khắp nơi về đây cúng tiền hiền. Ngày ấy khoảng 4 đến 5000 người tụ họp, nên rất chật chội. Đợt trùng tu lớn nhất kéo dài từ năm 1970 đến 1974. Hội quán được Bộ Văn hóa công nhận di tích lịch sử văn hóa tháng 11 năm 1989.

Hội quán Trung Hoa: nhà chung của năm bang

Hội quán Trung Hoa ở số 64 Trần Phú, mặt trước là đường Hoàng Văn Thụ chạy thẳng ra sông Hoài. Đây là hội quán chung của năm bang, còn gọi là Thiên Hậu Ngũ Bang vì Thiên Hậu được thờ ở gian giữa chính điện. Theo văn bia và tư liệu Hán - Nôm hiện còn, hội quán dựng vào khoảng năm 1741.

Chỉ có hai hội quán có nhà phương đình, nơi tiến hành nghi lễ: Trung Hoa và Quỳnh Phủ. Trong số năm hội quán, Trung Hoa có 66 cột, nhiều thứ hai sau Phúc Kiến.

Hội quán Triều Châu: chùa Ông Bổn

Hội quán Triều Châu ở số 362 đường Nguyễn Duy Hiệu, phường Sơn Phong, dựng năm 1845. Hội quán được trùng tu vào các năm 1887 và 1970.

Ảnh xưa Hội quán Triều Châu ở Faifo, cổng ngói mái cong có trang trí gốm trên nóc, vài người ngồi phía trước.
Hội quán Triều Châu ở "Fei-Foo", ảnh chụp giữa năm 1891 và 1898.

Ảnh trên chụp hội quán Triều Châu giữa năm 1891 và 1898. Khuôn viên hội quán có sân thiên tỉnh, và một xà cò trong chính điện ghi hai năm 1885 và 1969.

Triều Châu chọn Mã Viện, tức Phục Ba tướng quân, làm vị thần chính. Trước đây Ông Bổn được thờ chính, nên người buôn bán đến “vay tiền” lấy may. Hội quán còn gọi là chùa Ông Bổn, chùa Âm Bổn, và có câu Thượng Chùa Cầu, hạ Âm Bổn. Rằm tháng giêng, hội quán làm lễ cầu phước và cúng giỗ tiền hiền.

Hội quán Quỳnh Phủ: chùa Hải Nam

Hội quán Quỳnh Phủ ở số 10 Trần Phú. Hội quán được xây khoảng năm 1875 và đại trùng tu năm 1931. Phương đình của hội quán có kiểu song mái chỉ thấy ở đây, và là kiểu mái độc đáo nhất ở Hội An.

Hội quán thờ 108 vị Anh linh dưới dạng bài vị. Họ là 108 người Trung Hoa tử nạn năm 1831 ngoài biển Thu Xà, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi điều tra rõ sự việc, vua Tự Đức đã sắc phong cho họ. Rằm tháng 6 hằng năm, người Hải Nam làm lễ vía và cúng giỗ tiền hiền.

Hội quán Quảng Triệu (Quảng Đông): khi giấy tờ và xà cò không khớp

Hội quán Quảng Triệu nằm ở số 176 Trần Phú, còn gọi là hội quán Quảng Đông. Nó nổi bật vì thiên về chiều cao, vượt lên so với cảnh quan xung quanh.

Ảnh xưa mặt trước chùa của người Quảng Đông ở Faifo sau hàng rào sắt, một nhóm người đứng bên ngoài.
Hội quán Quảng Đông ở "Fei-Foo", ảnh chụp giữa năm 1891 và 1898.

Ảnh xưa trên chụp mặt trước hội quán giữa năm 1891 và 1898.

Đây là hội quán khó xác định năm xây nhất. Nhiều tài liệu ghi hội quán dựng năm 1885, tức năm thứ 11 đời vua Quang Tự. Nhưng xà cò đang gắn trên di tích ghi trùng tu năm Quang Tự thứ 10, tức 1884, và bồn hương đặt trước chính điện ghi năm Quang Tự thứ 9, tức 1883. Như vậy trùng tu có trước, xây dựng có sau. Có người cho rằng hội quán từng dựng ở Thanh Chiêm, phía tây Hội An, rồi dời về năm 1885, nhưng chưa tìm thấy tư liệu ghi chép.

Cách nói đúng nhất là hội quán dựng vào cuối thế kỷ XIX. Một chi tiết khác: xà cò của hội quán ghi hai niên đại 1884 và 1970, cho thấy công trình được sửa nhiều lần.

Hội quán lúc đầu thờ Thiên Hậu. Năm 1915 thờ thêm Khổng Tử ở chính giữa, vài năm sau bỏ các vị thần ở chính giữa và thay bằng Quan Thánh đế quân, như hiện nay. Ngày cúng lớn là 16 tháng giêng âm lịch. Hội quán có đợt trùng tu lớn năm 1991, và là một phần của khu phố cổ được công nhận di tích năm 1990.

Năm hội quán xếp theo tuổi

Nếu xếp theo năm khởi dựng, thứ tự như sau.

  • Phúc Kiến: khởi dựng năm 1697 với tên Kim Sơn Tự, tu bổ lớn từ năm 1757.
  • Trung Hoa: khoảng năm 1741, theo văn bia và tư liệu Hán - Nôm.
  • Triều Châu: năm 1845.
  • Quỳnh Phủ: khoảng năm 1875.
  • Quảng Triệu: cuối thế kỷ XIX, năm cụ thể còn tranh luận.

Như vậy Phúc Kiến là hội quán cổ nhất và Quảng Triệu là hội quán trẻ nhất. Tư liệu Minh Hương tam bảo vụ, nguồn mà hồ sơ di tích dùng, cũng đặt hội quán Quảng Triệu vào khoảng năm 1885. Thứ tự này khớp với thứ tự các làn sóng di cư: Hoa thương Phúc Kiến đến sớm nhất, nên bang Phúc Kiến cũng có hội quán sớm nhất.

Kiến trúc chung của các hội quán

Dù khác bang, các hội quán giống nhau ở nhiều điểm. Ba hội quán có sân thiên tỉnh: Quảng Triệu, Triều Châu và Phúc Kiến. Mỗi nếp nhà chính có bốn cột cái ở trung tâm, gọi là Tứ Thiên trụ. Trong năm hội quán có 176 cột gỗ, chiếm 70,4% tổng số cột.

Số cột cho bạn hình dung quy mô: Phúc Kiến 86, Trung Hoa 66, Quỳnh Phủ 44, Triều Châu 30, Quảng Triệu 24. Hội quán lớn nhất thứ hai là Quỳnh Phủ, sau đó là Trung Hoa và Quảng Triệu; Triều Châu nhỏ nhất.

Miếu Quan Công, người hàng xóm của năm hội quán

Cạnh năm hội quán còn miếu Quan Công ở số 24 Trần Phú. Năm Minh Mạng thứ 6, vua đi qua miếu và ban 300 lạng bạc. Với người buôn bán ở chợ Hội An, miếu có ý nghĩa như một trọng tài hay tòa án kinh tế. Miếu thờ Quan Thánh, và hội quán Quảng Triệu về sau cũng chọn Quan Thánh làm vị thần chính.

Đi xem hội quán

Bắt đầu từ Chùa Cầu, bạn đi theo số nhà giảm dần: Quảng Triệu số 176, Trung Hoa số 64, Phúc Kiến số 46, Quỳnh Phủ số 10. Hội quán Triều Châu ở số 362 Nguyễn Duy Hiệu, đi thêm một đoạn.

Từ 15/5/2023, mọi du khách vào phố cổ phải mua vé: 120.000 đồng cho khách quốc tế và 80.000 đồng cho khách nội địa. Quầy vé bán từ 7:30 đến 21:30 vào mùa hè, đến 21:00 vào mùa đông. Tiền vé tương ứng với số địa điểm tham quan.

Muốn xem phố cổ nói chung, đọc Phố cổ Hội An. Muốn đi tiếp về phía Đà Nẵng, ngọn núi đá nơi người Nhật và người Việt từng cúng tiền xây chùa nằm ở bài Ngũ Hành Sơn.

Nguồn ảnh

Câu hỏi thường gặp

Hội An có mấy hội quán của người Hoa?

Có năm hội quán: Phúc Kiến, Trung Hoa, Triều Châu, Quỳnh Phủ và Quảng Triệu. Người Hoa lập bốn hội quán riêng cho bốn bang và một hội quán chung.

Bang Gia Ứng sinh hoạt ở đâu?

Bang Gia Ứng không có hội quán riêng, họ sinh hoạt tại hội quán chung là hội quán Trung Hoa.

Hội quán Phúc Kiến xây năm nào?

Hồ sơ di tích ghi hội quán khởi dựng năm 1697 với tên Kim Sơn Tự, đến năm 1757 bang Phúc Kiến tu bổ lớn và đổi tên thành Phước Kiến Hội quán. Năm 1697 thương nhân Phước Kiến mua lại một ngôi chùa cũ ở đó để dựng hội quán.

Vì sao các nguồn ghi năm xây hội quán Quảng Triệu khác nhau?

Nhiều tài liệu ghi năm 1885, nhưng xà cò trên di tích ghi trùng tu năm 1884 và bồn hương ghi năm 1883, nghĩa là trùng tu có trước xây dựng. Có người cho rằng hội quán từng dựng ở Thanh Chiêm rồi dời về năm 1885, nhưng chưa có tư liệu ghi lại.

Hội quán nào lớn nhất?

Hội quán Phúc Kiến lớn nhất, tiếp đến là Quỳnh Phủ, Trung Hoa, Quảng Triệu; Triều Châu nhỏ nhất. Phúc Kiến có diện tích kiến trúc 2000 m2, sâu nhất 100 m.

Hội quán Triều Châu còn gọi là gì?

Còn gọi là chùa Ông Bổn hay chùa Âm Bổn, gắn với câu nói Thượng Chùa Cầu, hạ Âm Bổn. Hội quán thờ Mã Viện làm vị thần chính.

Hội quán Quỳnh Phủ thờ ai?

Thờ 108 vị Anh linh dưới dạng bài vị, là 108 người Trung Hoa tử nạn năm 1831 ngoài biển Thu Xà, Quảng Ngãi.

Vé vào xem hội quán bao nhiêu?

Từ 15/5/2023, vé phố cổ là 120.000 đồng cho khách quốc tế và 80.000 đồng cho khách nội địa. Tiền vé tương ứng với số địa điểm tham quan.

Đọc tiếp

Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).

Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.