Chùa Cầu Hội An: lịch sử, kiến trúc, tượng chó khỉ, truyền thuyết
Chùa Cầu là cây cầu có mái che bắc qua lạch nước ở phố cổ Hội An, còn gọi là Cầu Nhật Bản. Hồ sơ di tích ghi cầu dựng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, do thương nhân Nhật đầu tư vốn, thiết kế, thợ mộc Việt thi công. Năm 1653 người Hoa nối thêm gian chùa giữa cầu, năm 1719 chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên Lai Viễn Kiều. Cầu trùng tu bảy lần đến 1986, rồi tu bổ lớn, khánh thành ngày 3/8/2024.

Mục lục
Chùa Cầu là cây cầu gì
Chùa Cầu bắc qua một lạch nước rộng gần 10 mét, nối phố Trần Phú với phố Nguyễn Thị Minh Khai ở phía tây nam phố cổ Hội An. Cầu dài khoảng 18 mét, rộng khoảng 3 mét. Gần bốn thế kỷ nay cầu vẫn là tuyến đi lại của người Hội An, và hình ảnh của nó nằm ở mặt sau tờ 20.000 đồng bằng polymer.
Cầu đảm nhận ba việc cùng lúc: nối khu phố Nhật với khu phố Hoa, thờ thần hộ mệnh Bắc Đế Trấn Võ, và là chỗ nghỉ chân ngắm cảnh. Người xưa làm hai thứ liền nhau mà không lẫn: phần cầu ở ngoài để đi lại, gian chùa ở trong để thờ cúng. Bài này đi sâu vào chính cây cầu. Bối cảnh thương cảng Faifo nằm ở lịch sử Hội An, còn đường đi quanh phố ở phố cổ Hội An.
Ba cái tên của một cây cầu
Hồ sơ di tích của Ban Quản lý Di tích Hội An liệt kê ba tên. Cầu Nhật Bản, vì là cầu của người Nhật. Chùa Cầu, vì cầu và chùa xây liền nhau. Lai Viễn Kiều, tên chúa Nguyễn Phúc Chu đặt năm 1719, nghĩa là cầu của người phương xa đến.
Tên Lai Viễn Kiều có xuất xứ rõ trong sử triều Nguyễn. Đại Nam thực lục ghi mùa xuân năm 1719 chúa đi thăm dinh Quảng Nam, đến phố Hội An, thấy phía tây phố có cầu là nơi thuyền buôn tụ họp nên đặt tên cầu Lai Viễn. Hai chữ Lai Viễn lấy từ một câu trong sách Luận Ngữ. Bức hoành gỗ ba chữ ấy làm từ năm 1719 vẫn treo trên cửa; tấm hoành rộng 59 cm, dài 145 cm.
Ai xây cầu, xây năm nào
Câu trả lời trung thực nhất là: năm xây chính xác thì không rõ. Cũng không có tư liệu thư tịch nào nói về thời gian xây cầu. Hồ sơ di tích dựa vào văn bia tại cầu và các tài liệu khác để kết luận cầu dựng cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, do thương nhân Nhật Bản đầu tư vốn và thiết kế, thợ mộc Việt ở Hội An thi công.
Vậy dựa vào đâu để nói người Nhật là chủ cầu? Có ba mốc tài liệu. Mốc đầu là chuyện của linh mục Bénigne Vachet, người ở Đàng Trong từ năm 1673 đến 1683: tài liệu này cho phép xác định cầu đã có trước năm 1683. Mốc thứ hai là năm 1695, khi thiền sư Trung Hoa Thích Đại Sán ghé Hội An và viết trong Hải ngoại kỷ sự; ghi chép ấy là văn bản đầu tiên xác định chủ nhân Nhật Bản của cầu. Mốc thứ ba là văn bia trùng tu năm 1817, ghi cầu “tương truyền do người nước Nhật Bản làm nên”.
Cầu còn là một trong số ít cây cầu có mái che được vẽ trên các bản đồ cổ của nước ta từ thế kỷ 17, 18.
1653: người Hoa tiếp quản và gian chùa ra đời
Năm 1653, khi người Nhật đã rời Hội An, người Hoa tiếp quản chiếc cầu, nối thêm một gian nhô ra giữa cầu, cũng do thợ Việt thi công. Từ đó dân địa phương gọi là chùa. Về sau người Nhật ở Hội An thưa dần do lệnh cấm xuất ngoại của chính quyền Nhật những năm 1634-1635.
Gian chùa thờ tượng Bắc Đế Trấn Võ để cầu bình an, ổn định cho địa thế và phong thổ Hội An. Tượng gỗ này cao 0,5 mét, ở tư thế đứng. Cầu và chùa cách nhau hơn nửa thế kỷ mới dựng, nhưng bộ vì nóc của chùa vẫn ăn khớp hài hòa với vì nóc của cầu. Ở đây không có lễ hội nào; người dân thường thắp hương trước các tượng vào ngày rằm và mồng một.
Cầu “thượng gia hạ kiều” trông thế nào
Cầu làm theo kiểu thượng gia hạ kiều: trên có mái lợp ngói âm dương, mặt cầu lát gỗ, móng xây bằng đá. Hai gian đầu cầu hợp với bảy gian giữa theo hình chữ công, cầu hợp với chùa thành hình chữ đinh (T).
Hồ sơ di tích cho rằng riêng việc chùa và cầu gắn thành một thể thống nhất đã là điều độc đáo trong kho tàng kiến trúc Việt Nam. Cũng theo hồ sơ, cầu thể hiện mối quan hệ hữu nghị của ba dân tộc Việt, Hoa, Nhật cùng sống hòa bình trên đất Hội An.
Móng cầu là phần giữ được gần như nguyên vẹn qua các thời, còn hầu hết cấu kiện khác đã được thay trong các lần tu sửa.

Tượng chó và khỉ ở hai đầu cầu
Cầu thờ hai cặp tượng chó và khỉ. Bốn tượng gỗ ngồi này cao 110 cm; chỉ con chó đực mới được phục chế năm 1956, ba tượng còn lại đã có từ lâu đời. Nhìn qua tưởng đá vì lớp sơn xám, nhưng thực chất là gỗ. Hai con chó ngồi trên bệ, quay mặt vào nhau.
Vì sao là chó và khỉ? Hồ sơ di tích nêu hai cách hiểu: một là cách ghi niên đại kiểu người Nhật, hai là những con vật người Nhật sùng bái. Báo Pháp Luật Việt Nam dẫn thêm cách giải thích thứ ba: công trình kéo dài ba năm, động thổ năm Thân (khỉ) và hoàn thành năm Tuất (chó). Dù hiểu theo cách nào, nhiều người vẫn đứng lại trước hai tượng để thắp hương cầu bình an, nhất là vào ngày rằm, lễ Tết.
Truyền thuyết con Cù (và cá mamazu)
Đây là truyền thuyết, không phải sử. Nghiên cứu của Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An ghi lại như sau. Dưới đất Hội An có con Cù khổng lồ: mỗi lần nó cựa mình thì phố xá Hội An sạt lở, nó vẫy đuôi thì nước Nhật động đất. Để trấn yên, người Nhật đúc một thanh kiếm vàng yểm vào sống lưng nó, và phải nấu chì, bạc đổ xuống lòng khe làm móng cầu. Về sau người làng Minh Hương huy động tiền xây thêm miếu ở bờ bắc và thỉnh Bắc Đế Trấn Võ về thờ.
Từ điển Đại Nam quốc âm tự vị định nghĩa Cù là loài rồng không sừng, thường nằm dưới đất. Phía Nhật Bản có truyền thuyết tương tự về Mamazu, loài cá da trơn khổng lồ nằm sâu dưới bùn, vẫy đuôi thì gây động đất. Tác giả Trần Văn An nhận xét truyền thuyết này xác nhận người Nhật là chủ nhân đầu tiên xây cầu.
Bảy lần trùng tu, rồi đợt tu bổ lớn nhất
Hồ sơ di tích ghi bảy lần trùng tu vào các năm 1653, 1763, 1817, 1865, 1915, 1917 và 1986. Ba lần 1763, 1817, 1865 còn được chạm trên xà nóc; bốn tấm bia đá lớn ở hai đầu cầu ghi những lần sửa lớn, bia sớm nhất năm 1817, muộn nhất năm 1917. Năm 1915 Chánh công sứ Pháp Lesterlin đứng ra bỏ tiền tu bổ. Năm 1986 Bộ Văn hóa trùng tu theo đề nghị của địa phương. Năm 1990 Bộ Văn hóa cấp bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa.
Đến năm 2010 móng cầu lún, nứt, chùa và cầu tách rời, kèo cột mối mọt. Mỗi ngày cầu gánh hàng nghìn người qua lại. Cuối tháng 12/2022 cầu được hạ giải toàn bộ. Sau 19 tháng, Chùa Cầu được khánh thành chiều 3/8/2024, nhân dịp giao lưu văn hóa Hội An - Nhật Bản lần thứ 20. Đây là đợt trùng tu quy mô lớn nhất từ trước đến nay, tổng kinh phí 20,2 tỷ đồng từ ngân sách tỉnh và địa phương. Người phụ trách cho biết hình dáng, cấu trúc, kết cấu cầu được giữ gần như nguyên vẹn. Diện mạo mới gây nhiều ý kiến trái chiều.

Đọc tiếp
Cầu nối khu phố Nhật với khu phố Hoa. Dòng nước nuôi phố cảng là sông Hoài, và cả chặng đường từ cảng Faifo đến phố cổ hôm nay nằm trong lịch sử Hội An.
Nguồn ảnh
- Chùa Cầu sau đợt tu bổ năm 2024: Wikimedia Commons — Chainwit. (opens in a new tab) (CC BY 4.0)
- Bên trong cầu, năm 2024: Wikimedia Commons — Chainwit. (opens in a new tab) (CC BY 4.0)
- Chùa Cầu một đêm rằm: Wikimedia Commons — Nguyen Phu Duc, CC0 (opens in a new tab) (CC0)
Câu hỏi thường gặp
Chùa Cầu Hội An do ai xây, xây năm nào?
Hồ sơ di tích ghi cầu xây cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, do thương nhân Nhật Bản đầu tư vốn, thiết kế và thợ mộc Việt thi công. Năm xây chính xác thì không rõ.
Vì sao gọi là Chùa Cầu?
Năm 1653, người Hoa tiếp quản cầu và nối thêm một gian nhô ra giữa cầu; từ đó người địa phương gọi là chùa. Gian ấy thờ Bắc Đế Trấn Võ.
Lai Viễn Kiều nghĩa là gì?
Là cầu của người phương xa đến; chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên năm 1719. Hai chữ Lai Viễn lấy từ sách Luận Ngữ.
Chùa Cầu dài bao nhiêu, nằm ở đâu?
Cầu dài khoảng 18 mét, rộng khoảng 3 mét. Cầu bắc qua một lạch nước nối phố Trần Phú với phố Nguyễn Thị Minh Khai.
Vì sao có tượng chó và khỉ ở hai đầu cầu?
Hồ sơ di tích ghi có ý kiến cho đó là cách ghi niên đại theo kiểu người Nhật, có ý kiến cho đó là con vật người Nhật sùng bái. Một cách giải thích khác: công trình khởi công năm Thân (khỉ) và xong năm Tuất (chó).
Chùa Cầu đã trùng tu mấy lần?
Hồ sơ di tích ghi bảy lần: 1653, 1763, 1817, 1865, 1915, 1917 và 1986. Sau đó cầu được tháo dỡ để tu bổ từ cuối tháng 12/2022 và khánh thành ngày 3/8/2024.
Chùa Cầu được công nhận di tích khi nào?
Năm 1990 Bộ Văn hóa cấp bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa.
Truyền thuyết con Cù ở Chùa Cầu là gì?
Truyền thuyết kể mỗi lần con Cù cựa mình thì phố Hội An sạt lở, vẫy đuôi thì Nhật Bản động đất. Người Nhật đúc thanh kiếm vàng yểm vào sống lưng nó.
Đọc tiếp
- Lịch sử Hội An: thương cảng Faifo, Chùa Cầu và phố cổKiểm tra ngày 18/10/2026
- Phố cổ Hội An: lịch sử, nhà cổ, hội quán, đêm rằm và giá véKiểm tra ngày 18/10/2026
- Sông Hoài Hội An: Lịch sử bến cảng, thả hoa đăng và đi thuyềnKiểm tra ngày 18/10/2026
- Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng: từ vườn tượng TouraneKiểm tra ngày 18/10/2026
Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).
Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.