Con người

Danh sĩ xứ Quảng: khoa bảng triều Nguyễn và Ngũ phụng tề phi

Quảng Nam là đất khoa bảng: dưới triều Nguyễn có 15 vị đỗ Tiến sĩ và 24 vị Phó bảng. Người đỗ Tiến sĩ đầu tiên của cả vùng sáu tỉnh từ Quảng Nam vào đến Ninh Thuận là Lê Thiện Trị, ở khoa thi Hội năm 1838. Năm 1898, năm sĩ tử xứ Quảng cùng đỗ, được gọi là Ngũ phụng tề phi. Trang này kể về họ, về Phạm Phú Thứ, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp và Phan Châu Trinh qua khoa cử và tác phẩm.

Ảnh cũ chụp Phạm Phú Thứ ngồi trong triều phục thêu rồng, đội mũ cánh chuồn, hai tay cầm hốt.
Phạm Phú Thứ trong triều phục. Ảnh cũ, phạm vi công cộng.
Mục lục
  1. Đất học xứ Quảng
  2. Lê Thiện Trị: người khai khoa của sáu tỉnh
  3. Phạm Phú Thứ: Tiến sĩ đi sứ châu Âu
  4. Hoàng Diệu: Phó bảng người Điện Bàn
  5. Trường Đốc Thanh Chiêm và thầy Trần Đình Phong
  6. Ngũ phụng tề phi, năm 1898
  7. Khoa Giáp Thìn 1904: Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp
  8. Phan Châu Trinh: Phó bảng và những trang thơ
  9. Đọc tiếp
  10. Câu hỏi thường gặp

Đất học xứ Quảng

Dưới triều Nguyễn, từ năm 1807 đến năm 1919, triều đình mở khoa thi Hán học để chọn nhân tài. Trong thời gian ấy có 48 khoa thi Hương và 39 khoa thi Hội, thi Đình; nho sinh Quảng Nam có mặt và có kết quả tại 42 khoa thi Hương và 22 khoa thi Đình.

Kết quả: Quảng Nam đỗ tổng cộng 254 vị Cử nhân, trong đó 6 người đỗ thủ khoa; có 15 vị đỗ Tiến sĩ và 24 vị Phó bảng. Những tên tiêu biểu được nhắc đầu tiên là Phạm Phú Thứ, Phạm Liệu, Phan Quang, Đỗ Thúc Tĩnh, Huỳnh Thúc Kháng và Hoàng Diệu.

Số liệu ấy được giới thiệu trong triển lãm về Quảng Nam qua tài liệu lưu trữ mộc bản triều Nguyễn, khối tư liệu được UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu thế giới vào tháng 7/2009. Trang này không kể hết các vị Tiến sĩ. Nó đi theo những người có tiểu sử và tác phẩm ghi lại: người khai khoa, người đi sứ, năm “phượng” năm 1898, và ba người bạn học một thầy. Địa danh dưới đây ghi theo cách gọi nay: Quảng Nam, nay thuộc thành phố Đà Nẵng.

Lê Thiện Trị: người khai khoa của sáu tỉnh

Khoa thi Hội năm Mậu Tuất 1838 là lần đầu vùng sáu tỉnh trải dài từ Quảng Nam vào đến Ninh Thuận có người đỗ Tiến sĩ. Người ấy là Lê Thiện Trị.

Lê Thiện Trị (1769-1872) quê xã Long Phước, huyện Duy Xuyên, phủ Điện Bàn. Cha ông là cụ Lê Thiện Quang, tú tài Hán học, làm tri huyện Hòa Vang được 11 năm.

Đường thi cử của ông không suôn sẻ ngay. Năm 17 tuổi ông đi thi lần đầu và đỗ tú tài. Từ đó cứ ba năm một lần ông lều chõng đi thi, nhưng vẫn chỉ đỗ tú tài. Do đỗ mấy khóa tú tài, lại là con tri huyện, ông được đặc cách nhận vào Quốc tử giám. Cũng nhờ chân giám sinh mà ông được dự thi và đỗ tiến sĩ khoa thi Hội năm 1838.

Sau đó ông làm quan, thăng liên tục từ hàm chánh thất phẩm lên tòng nhị phẩm. Khi đương chức Tuần vũ Thuận Khánh, ông chi sai nguyên tắc một khoản tiền công khố, gặp kiểm tra nên bị xuống làm thứ dân. Nhưng ông không mất học vị: tên và học vị của ông vẫn còn chép trong khoa bảng lục và trên bia Tiến sĩ ở Huế.

Về quê, ông vận động xây Văn thánh huyện Duy Xuyên trên khuôn viên rộng 8 sào để thờ Khổng Tử và các bậc đại nho. Cứ ba năm có một kỳ đại tế vào ngày 16 tháng 2 âm lịch.

Của ông còn lại ít câu đối ở chùa Long Phước. Câu ở cổng chùa: “Long can nhật ấm bồ đề thọ / Phước lý xuân nồng bát nhã hoa”. Tạm dịch: gò rồng ngày tỏa bóng bồ đề, đất phước xuân nồng hoa bát nhã.

Phạm Phú Thứ: Tiến sĩ đi sứ châu Âu

Phạm Phú Thứ (1821-1882) sinh năm Tân Tỵ 1821 ở làng Đông Bàn, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, nay là xã Gò Nổi, Đà Nẵng. Nhà nghèo, mẹ mất sớm, nhưng ông thông minh, chăm chỉ, và từng được Tùng Thiện vương Miên Thẩm dạy dỗ.

Năm 1842, mới 21 tuổi, ông đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương. Năm 1843 ông đỗ Hội nguyên, rồi vào thi Đình đỗ luôn Tiến sĩ cập đệ.

Năm 1854 ông làm tri phủ Tư Nghĩa, Quảng Ngãi, vận động dân lập hơn năm mươi kho nghĩa thương để dành chẩn tế. Đầu năm 1863 ông được cử làm Phó sứ, cùng Chánh sứ Phan Thanh Giản và Bồi sứ Ngụy Khắc Đản sang Pháp và Tây Ban Nha. Trong chuyến đi ông viết Tây hành nhật ký và Tây Phù thi thảo, rồi dâng lên vua.

Về sau ông cho khắc in nhiều sách thực dụng do người Trung Quốc dịch từ tiếng Anh ra chữ Hán: Bác vật tân biên nói về khoa học, Khai môi yếu pháp nói về cách khai mỏ, Hàng hải kim châm nói về cách đi biển.

Ở quê, ông còn hướng dẫn người làng Đông Bàn làm xe đạp nước và xe trâu, những công cụ thủy lợi khá hữu ích. Thơ của ông trong Giá Viên thi tập bộc lộ cảm xúc của người chưa quên mình là học trò nghèo ở thôn quê.

Hoàng Diệu: Phó bảng người Điện Bàn

Hoàng Diệu sinh ngày 14 tháng 3 năm 1829 trong một gia đình nho giáo ở làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, nay là xã Gò Nổi, Đà Nẵng. Gia đình ông, dưới thời Tự Đức, có một người đỗ phó bảng, ba người đỗ cử nhân và hai người đỗ tú tài.

Năm 20 tuổi ông đồng đỗ cử nhân với anh là Hoàng Kim Giám khoa Mậu Thân 1848. Năm 25 tuổi ông đỗ Phó bảng khoa Quý Sửu 1853. Năm 1878 ông làm Tuần phủ Quảng Nam. Tên ông còn được nhớ như người quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi quân Pháp tấn công năm 1882.

Trường Đốc Thanh Chiêm và thầy Trần Đình Phong

Nhiều danh sĩ cuối thế kỷ 19 có chung một mái trường. Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp đều là “học trò cưng” của Đốc học Mã Sơn Trần Đình Phong. Ba người cùng học ở trường Cẩm Y với huấn đạo Lê Công Thúy, rồi ở trường Giáo Thăng Bình và trường Đốc Thanh Chiêm. Ngay từ nhỏ họ đã kết bạn, thành “đồng song”.

Học trò lỗi lạc của trường Thanh Chiêm còn có Phạm Liệu, Nguyễn Đình Hiến và Phan Quang. Dương Hiển Tiến cũng học ở đó và được Trần Đình Phong giúp đỡ. Khoa Mậu Tuất 1898 của “Ngũ phụng” và khoa Giáp Thìn 1904 của Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đều đến từ một lớp học trò quanh ngôi trường này.

Ngũ phụng tề phi, năm 1898

“Ngũ phụng tề phi” nghĩa là năm con phượng cùng bay. Ở Việt Nam, danh xưng ấy được nhiều người biết nhất khi chỉ năm danh sĩ Quảng Nam cùng đỗ đại khoa năm 1898.

Năm Mậu Tuất 1898, tỉnh Quảng Nam có năm sĩ tử đỗ cùng khoa: ba Tiến sĩ là Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, và hai Phó bảng là Ngô Chuân, Dương Hiển Tiến. Theo bia tiến sĩ khoa Mậu Tuất 1898 ở Văn Thánh Huế, người đỗ đầu khoa này là Đào Nguyên Phổ, ngoài nhóm Quảng Nam.

Chuyện ai đặt tên có nhiều cách kể; giới nghiên cứu hiện nêu bốn cách lý giải. Một cách kể: Tổng đốc Nam-Ngãi Đào Tấn và Đốc học Quảng Nam Trần Đình Phong lấy tích xưa đặt cho năm vị, tặng bức trướng bốn chữ “Ngũ phụng tề phi”. Trên tấm thục thêu năm con phụng: ba con xòe cánh tượng trưng ba tiến sĩ, hai con xếp cánh tượng trưng hai phó bảng, đặt ở dinh Tổng đốc ở Điện Bàn. Một cách diễn giải khác cho rằng chính vua Thành Thái ban bốn chữ ấy.

Phạm Liệu

Phạm Liệu (1873-1937) quê xã Trừng Giang, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn. Ông đỗ cử nhân năm 1894, rồi đỗ đầu nhóm Đệ tam giáp khi mới 26 tuổi. Sau khi đỗ ông ở lại Huế học tiếng Pháp tại Tứ Dịch quán. Năm 1929 ông được bổ làm thượng thư bộ Binh.

Phan Quang

Phan Quang (1873-1939), tự Quế Nam, quê xã Phước Sơn, huyện Quế Sơn, Quảng Nam. Ông đỗ cử nhân thứ ba kỳ thi Hương tại Thừa Thiên năm Giáp Ngọ. Năm 1930 ông được phong hàm Lễ bộ Thượng thư trước khi về hưu.

Về hưu ông vận động triều đình lập trường tiểu học cho dân huyện; trường tiểu học Quế Sơn ra đời năm 1937. Ông còn hiến đất cho làng lập chợ để dân buôn bán hai bên đường. Chiến tranh làm thất lạc tác phẩm của ông, chỉ còn ít bài thơ truyền miệng, bình dị và nhẹ nhàng.

Phạm Tuấn

Phạm Tuấn (1852-1917) quê xã Xuân Đài, huyện Diên Phước. Ông đỗ cử nhân năm 1879. Đến năm 1898, ở tuổi 47, ông thi Đình và đỗ thứ năm trong nhóm Đệ tam giáp. Năm 1908 ông làm đốc học Hà Tĩnh.

Ngô Chuân

Ngô Chuân, còn gọi Ngô Truân, Ngô Trân hay Ngô Lý (1873-1899), nhà nghèo, cha mất sớm, theo mẹ ngụ cư làng Cẩm Sa. Năm 1898, 26 tuổi, ông đỗ đầu nhóm Phó bảng; ông mất năm 1899 khi mới 27 tuổi.

Dương Hiển Tiến

Dương Hiển Tiến (1866-1907) người xã Cẩm Lậu, huyện Diên Phước. Nhà nghèo đến mức cha ông phải xin một thầy đồ họ Đoàn nhận nuôi để ông được đi học hằng ngày; sau đó ông học trường Giáo Điện Bàn và trường Đốc Thanh Chiêm, nơi Đốc học Trần Đình Phong thường khen ngợi và giúp đỡ. Năm 1898 ông đỗ thứ ba trong nhóm Phó bảng. Một năm sau, chán cảnh quan trường, ông từ quan về quê mở trường dạy học, học trò theo học rất đông.

Khoa Giáp Thìn 1904: Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp

Huỳnh Thúc Kháng

Huỳnh Thúc Kháng sinh ngày 1 tháng 10 năm 1876 ở làng Thạnh Bình, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, nay là xã Thạnh Bình, Đà Nẵng. Ông bắt đầu học chữ Nho từ năm 8 tuổi với người cậu ruột là Tế tửu Quốc tử giám Nguyễn Đình Tựu. Họ Huỳnh ở miền Trung và Nam do kiêng húy Nguyễn Hoàng mà từ họ Hoàng đổi thành.

Ảnh chân dung in đen trắng một người đàn ông lớn tuổi quấn khăn, ria mỏng, dòng chữ bên dưới ghi Ông Huỳnh-thúc-Kháng.
Huỳnh Thúc Kháng. Chân dung in trong sách Phê bình và cảo luận.

Khoa thi Hương Canh Tý 1900, ông đỗ Giải nguyên, Phan Châu Trinh đỗ thứ ba. Năm Giáp Thìn 1904, ông đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân.

Năm 1927, ông cùng Đào Duy Anh sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế; báo bị đình bản năm 1943. Tiếng Dân đòi mở mang giáo dục, canh nông, phản ánh thực trạng xã hội, đòi tự do báo chí và bảo vệ thuần phong mỹ tục.

Ngoài việc làm báo, ông còn là một nhà thơ, một nhà nghiên cứu văn học và lịch sử. Tác phẩm chủ yếu còn giữ hiện nay gồm Thi tù tùng thoại, Lịch sử Phan Tây Hồ tiên sinh và Thơ văn với thời đại.

Trần Quý Cáp

Trần Quý Cáp (1870-1908) sinh trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Thai La, làng Bất Nhị, huyện Điện Bàn, nay là xã Điện Bàn Tây, Đà Nẵng. Ông là một trong sáu học trò lỗi lạc của Đốc học Trần Đình Phong ở trường Thanh Chiêm.

Mãi đến năm 1904 ông mới được đặc cách dự thi Hội rồi thi Đình, và đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn, cùng khoa với Huỳnh Thúc Kháng và Đặng Văn Thụy.

Năm 1907 ông làm Giáo thụ phủ Thăng Bình. Ở đó ông mở một lớp chữ Pháp ngay trong trường và rước thầy về dạy học sinh.

Phan Châu Trinh: Phó bảng và những trang thơ

Phan Châu Trinh sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872 ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, nay là xã Tây Hồ, Đà Nẵng.

Ảnh chân dung nâu sepia Phan Châu Trinh ngồi trong bộ vest tối, thắt nơ, ria và râu dê, góc ảnh có dấu hiệu tiệm Khánh Ký Sài Gòn.
Phan Châu Trinh, ảnh chụp ở tiệm Khánh Ký, Sài Gòn.

Khoa Canh Tý 1900, ông đỗ cử nhân thứ ba ở trường Thừa Thiên. Năm sau, triều đình mở ân khoa, ông đỗ phó bảng, cùng khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế. Năm 1903 ông được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ.

Về văn chương, ông có Tây Hồ thi tập, tập hợp thơ làm trong nhiều năm. Giai nhân kỳ ngộ diễn ca của ông gồm hơn 7.000 câu thơ lục bát, soạn năm 1912-1913. Năm 1910, ông soạn chung với Huỳnh Thúc Kháng và Phan Thúc Duyện vở tuồng Trưng Nữ Vương.

Đọc tiếp

Một người Quảng Nam của thế hệ sau, nhà báo và dịch giả Phan Khôi, có trang riêng: Phan Khôi. Về cảng thị cùng thời đại những danh sĩ này lớn lên, đọc Lịch sử Hội An và Đà Nẵng 1858.

Nguồn ảnh

Câu hỏi thường gặp

Quảng Nam có bao nhiêu người đỗ Tiến sĩ thời Nguyễn?

Có 15 vị đỗ Tiến sĩ và 24 vị Phó bảng, cùng 254 vị Cử nhân, trong đó 6 người đỗ thủ khoa.

Ai là Tiến sĩ đầu tiên của xứ Quảng?

Lê Thiện Trị, người Duy Xuyên, đỗ khoa thi Hội năm Mậu Tuất 1838; ông là người đỗ đầu tiên của vùng sáu tỉnh từ Quảng Nam đến Ninh Thuận.

Ngũ phụng tề phi là gì?

Là danh xưng chỉ năm danh sĩ Quảng Nam cùng đỗ đại khoa năm 1898: ba Tiến sĩ Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn và hai Phó bảng Ngô Chuân, Dương Hiển Tiến.

Phạm Phú Thứ đỗ Tiến sĩ năm nào?

Năm 1843, sau khi đỗ Giải nguyên năm 1842.

Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp có đỗ cùng khoa không?

Có. Cả hai đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn, năm 1904.

Phan Châu Trinh đỗ học vị gì?

Đỗ cử nhân thứ ba năm 1900, rồi Phó bảng năm 1901 trong kỳ thi ân khoa.

Thầy của Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp là ai?

Đốc học Mã Sơn Trần Đình Phong, người xem cả ba là học trò cưng, dạy ở trường Đốc Thanh Chiêm.

Phạm Phú Thứ để lại tác phẩm nào?

Tây hành nhật ký và Tây Phù thi thảo, viết trong chuyến đi sứ sang Pháp và Tây Ban Nha.

Đọc tiếp

Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).

Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.