Làng nghề

Làng đá mỹ nghệ Non Nước: lịch sử, tổ nghề, đá và nghề chạm

Làng đá mỹ nghệ Non Nước nằm dưới chân Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng. Làng hình thành từ đầu thế kỷ XVII, do nghệ nhân người Thanh Hóa, Nghệ An vào xứ Quảng lập nên. Bia chùa Phổ Khánh dựng năm 1678 ghi người khắc bia quê ở xã Quán Khái. Từ năm 1991 núi Non Nước bị cấm khai thác đá, nên đá nay chủ yếu về từ Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Nguyên và nước ngoài. Năm 2014 làng được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Mặt tiền một xưởng chạm đá ở Non Nước với sư tử đá trắng và tượng Quan Âm bày trước cửa.
Một xưởng chạm đá ở Non Nước: sư tử và tượng Quan Âm bằng đá trắng.
Mục lục
  1. Làng đá dưới chân Ngũ Hành Sơn
  2. Tấm bia 1678 và những người thợ Quán Khái
  3. Tổ nghề là ai
  4. Từ cối đá, ngư cụ đến tượng
  5. Lính thợ vào Huế và bộ ấm chén vân đỏ
  6. Đá từ đâu ra
  7. Công cụ và các bước chạm
  8. Việt và Chăm trong một khối đá
  9. Người giữ nghề và ngày giỗ tổ
  10. Đi xem và mua đá
  11. Câu hỏi thường gặp

Làng đá dưới chân Ngũ Hành Sơn

Làng đá mỹ nghệ Non Nước nằm ngay dưới chân danh thắng Ngũ Hành Sơn, trải dọc các đường Lê Văn Hiến, Huyền Trân Công Chúa và đường 538, trên diện tích gần 3 km². Ngũ Hành Sơn gồm sáu ngọn núi đá vôi: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn, Thổ Sơn, Dương Hỏa Sơn và Âm Hỏa Sơn. Chuyện núi, chùa, hang động nằm ở bài Ngũ Hành Sơn; bài này đi vào làng đá.

Quy mô làng ngày nay khá lớn: gần 500 cơ sở sản xuất đá mỹ nghệ, gần 4.000 lao động, chiếm gần 80% hộ dân trong phường. Mỗi năm thợ làm ra khoảng trên 80.000 sản phẩm các loại. Năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận làng nghề là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Tấm bia 1678 và những người thợ Quán Khái

Hỏi làng đá có từ bao giờ, câu trả lời thường nghe là “hơn 400 năm”, từ đầu thế kỷ XVII, do nghệ nhân người Thanh Hóa, Nghệ An vào xứ Quảng lập nên. Nhưng tài liệu có niên đại rõ nhất lại là một tấm bia ở nơi khác. Bia chùa Phổ Khánh, một trong những ngôi chùa cổ nhất đất Quảng, ở làng Ái Nghĩa, khắc năm Mậu Ngọ, niên hiệu Vĩnh Trị thứ ba, Lê Huy Tông (1678), ghi rõ người khắc bia quê ở “xã Quán Khái”.

Từ tấm bia ấy, có thể thấy xã Quán Khái đã có nghề khắc bia, đục chữ từ lâu, ít nhất từ thế kỷ 17. Cũng theo văn bia, những người thợ điêu khắc đến từ Thanh Hóa và an cư lập nghiệp ở Quán Khái, vì lúc bấy giờ quanh chân núi Ngũ Hành Sơn chưa có dân cư hay làng mạc gì cả. Về sau, vì gần nguồn đá và gần nơi tiêu thụ, thợ mới chuyển dần về dưới chân núi Ngũ Hành Sơn.

Làng còn một nỗi thiệt: toàn bộ sắc phong và địa bạ của làng đã bị đốt cháy, cùng với đình làng Quán Khái.

Bưu thiếp xưa đen trắng chụp cửa hang và các ngọn núi đá Ngũ Hành Sơn thời Pháp thuộc.
Bưu thiếp đầu thế kỷ XX: Cửa hang và núi cẩm thạch, Tourane.

Tổ nghề là ai

Có nhiều tên được nhắc. Theo nhiều nghiên cứu gần đây, ông tổ nghề đá có thể là người họ Huỳnh Bá hoặc Nguyễn Văn, và cứ liệu thuyết phục nhất vẫn là ông Huỳnh Bá Quát. Bia mộ tiền hiền tộc Huỳnh Bá chép lại từ sắc phong dòng chữ “Thạch tượng Quán Khái xã, Huỳnh Bá tộc thủy khai”, nghĩa là nghề đá xã Quán Khái do ông Huỳnh Bá khai sinh đầu tiên.

Người già làng Quán Khái Đông kể rằng chính cụ Huỳnh Bá Quát đem nghề đá từ Thanh Hóa vào Quán Khái, đồng thời là vị tiền hiền lập làng. Bia và mộ cụ vẫn còn ở Quán Khái Đông.

Dân làng còn truyền miệng một câu xếp hạng các tay thợ lấy đá giỏi nhất: “Nhất Trì, Nhì Ngộ, Ba Gang”. Câu ấy xếp hạng theo thứ bậc các tay thợ khai thác đá giỏi, những người trèo núi lấy đá.

Từ cối đá, ngư cụ đến tượng

Những sản phẩm đầu tiên của làng rất thô sơ, phục vụ sản xuất và sinh hoạt: cục chùy xâu lưới đánh cá, cối xay, dụng cụ cho nghề đi biển và nông nghiệp, làm từ đá Non Nước. Ban đầu cả làng chỉ có khoảng 5 - 6 gia đình làm nghề.

Sang thế kỷ XVIII, khi làng chia tách, chỉ người dân Quán Khái Đông còn giữ nghiệp cổ truyền. Đầu thế kỷ XX, cả làng có khoảng 10 đến 15 gia đình làm nghề, sản phẩm vẫn chủ yếu là đồ dân dụng.

Lính thợ vào Huế và bộ ấm chén vân đỏ

Dưới triều vua Tự Đức, nhiều nghệ nhân được triệu về làm đốc công theo dõi việc điêu khắc đá ở cung điện, lăng tẩm, như cụ Cửu Đàn, cụ Nguyễn Văn Đệ, cụ Nguyễn Văn Bình. Một số thợ giỏi được triều đình phong hàm Cửu phẩm.

Trong số đó có Huỳnh Bá Triêm, còn gọi là ông Cửu Đàn. Ở kinh đô, ông để ý thấy những người thợ đá khắc chạm nhiều bộ ấm trà rất đẹp. Về làng ông nghiên cứu và chế tác thành công bộ ấm chén, khay trà vân đỏ, mở đường cho việc làm đồ đá mỹ nghệ.

Đá từ đâu ra

Mỗi ngọn núi Ngũ Hành Sơn có màu đá riêng: Thủy Sơn hồng, Mộc Sơn trắng, Hỏa Sơn đỏ, Kim Sơn thủy mặc, Thổ Sơn nâu. Trước kia, nguyên liệu khai thác tại chỗ, chủ yếu là đá cẩm thạch nhiều màu đỏ, đen, trắng, kết cấu mịn, mềm, dễ đục.

Người chuyên lấy đá được gọi là “ông Võ”, thường là các cụ già nhiều kinh nghiệm, dẫn đội thanh niên khỏe vào núi. Ông dùng cây tựa bằng sắt dài 60 - 70 cm để tìm thớ đá. Người thợ giỏi còn đoán được đá mềm hay cứng, làm được món gì, chỉ qua tiếng kêu của đá.

Ảnh cũ chụp hai nhà sư mặc lễ phục, tay cầm tràng hạt, đứng trong hang đá ở Ngũ Hành Sơn.
Hai nhà sư chùa Linh Ứng và Tam Thai trong lễ phục, ảnh chụp đầu thế kỷ XX (Albert Sallet).

Nhưng việc lấy đá có giá của nó. Năm 1980 Ngũ Hành Sơn được công nhận di tích danh thắng cấp quốc gia. Sau đó di tích phải đối mặt với sự khai thác quá mức của làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước. Năm 1991, UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng có chủ trương cấm khai thác đá núi Non Nước. Từ đó thợ không còn tự khai thác đá tại Ngũ Hành Sơn. Nguyên liệu nay chủ yếu về từ Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Nguyên và một số nước khác.

Công cụ và các bước chạm

Công cụ thủ công gồm búa tạ, xà beng để khai thác đá, con vọt, con chạm để bóc tách các lớp đá. Mũi bạt chặt đường thẳng và cạnh góc vuông, mũi ve tạo chi tiết như khắc chữ, trang trí hoa văn. Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, thợ bắt đầu dùng máy cơ khí hiện đại ở một số công đoạn.

Bước đầu là ra phôi, việc của “ông Văn”. Với sản phẩm khó, thợ phải vẽ phác thảo và làm phôi bằng đất sét trước khi chạm đá thật. Công đoạn mài, rửa, đánh bóng bằng tay thường do thợ phụ làm, đa số là phụ nữ. Để màu đẹp, đôi khi thợ nhuộm đá bằng phẩm màu kết hợp bã chè xanh, xi đánh giày màu nâu, màu chàm.

Việt và Chăm trong một khối đá

Làng đá Non Nước được xem là sự giao thoa hài hòa giữa hai nền văn hóa Việt cổ và Chăm-pa. Bạn thấy điều đó ở sản phẩm: bên cạnh tượng Phật, tượng thánh, tượng người, tượng muông thú, vòng đá đeo tay trơn láng nhiều màu, còn có tượng nữ Apsara, thần Ganesa, nữ thần Laksmi. Để hiểu gốc Chăm của vùng núi này, xem thêm Thánh địa Mỹ Sơn.

Người giữ nghề và ngày giỗ tổ

Nghề truyền theo kiểu cha truyền con nối, cầm tay chỉ việc. Nhiều gia đình có tới bảy tám thế hệ làm nghề điêu khắc đá. Một người thợ ở làng kể anh lớn lên cùng tiếng đục đá, năm 11 tuổi đã tranh thủ sau giờ học để tập đẽo đá. Hợp tác xã mỹ nghệ Non Nước từng tồn tại nhưng giải thể vì không kịp chuyển đổi theo cơ chế thị trường.

Dưới chân núi, thuộc khối Đông Hải, có nhà thờ Thạch Nghệ Tổ Sư; ngày mùng 6 tháng giêng âm lịch hằng năm là ngày tế ra nghề. Lễ giỗ Tổ nghề tổ chức vào ngày 16 tháng Ba âm lịch. Năm 2013, lễ rơi vào 25/4. Lễ không chỉ tưởng nhớ tổ nghề mà còn làm tế cầu siêu cho những thợ đá gặp tai nạn lúc làm việc.

Đi xem và mua đá

Làng nằm dưới chân Ngũ Hành Sơn; các cơ sở phân bố dọc đường Lê Văn Hiến, Huyền Trân Công Chúa và đường 538. Sản phẩm trải từ vòng đá đeo tay đến tượng Phật, tượng người, tượng muông thú.

Với món lớn, hai bên tự thỏa thuận; bên bán đóng kiện cẩn thận và gửi theo đường biển đến tận nơi. Một lưu ý: tình trạng nhái kiểu dáng và chất lượng lai tạp đang làm giảm giá trị sản phẩm và uy tín của làng, nên hãy xem kỹ vân đá và nét chạm trước khi trả giá.

Nguồn ảnh

Câu hỏi thường gặp

Làng đá Non Nước có từ bao giờ?

Làng hình thành cách đây hơn 400 năm, vào đầu thế kỷ XVII, do nghệ nhân người Thanh Hóa, Nghệ An vào xứ Quảng lập nên. Mốc có ghi niên đại rõ nhất là tấm bia chùa Phổ Khánh năm 1678.

Ai là tổ nghề đá Non Nước?

Nhiều nghiên cứu gần đây cho rằng tổ nghề có thể là người họ Huỳnh Bá hoặc Nguyễn Văn, và cứ liệu thuyết phục nhất vẫn là ông Huỳnh Bá Quát. Người già trong làng kể ông đem nghề đá từ Thanh Hóa vào Quán Khái.

Đá ở làng đá Non Nước lấy từ đâu?

Trước kia khai thác tại chỗ từ núi Ngũ Hành Sơn. Từ năm 1991 núi Non Nước bị cấm khai thác đá, nay nguyên liệu về từ Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Nguyên và một số nước.

Làng đá Non Nước được công nhận di sản năm nào?

Năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận làng nghề là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Làng đá Non Nước có bao nhiêu cơ sở?

Gần 500 cơ sở sản xuất đá mỹ nghệ với gần 4.000 lao động, chiếm gần 80% hộ dân cư trong phường. Thợ làm khoảng trên 80.000 sản phẩm mỗi năm.

Có gửi tượng đá lớn về nước ngoài được không?

Với sản phẩm cỡ lớn, hai bên thỏa thuận; bên bán đóng kiện cẩn thận và gửi theo đường biển đến tận nơi khách hàng.

Lễ giỗ tổ nghề đá Non Nước vào ngày nào?

Lễ giỗ Tổ nghề tổ chức vào ngày 16 tháng Ba âm lịch. Năm 2013 ngày này rơi vào 25/4.

Đọc tiếp

Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).

Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.