Làng nghề

Làng gốm Thanh Hà Hội An: lịch sử, đất sét, lò nung, nghệ nhân

Làng gốm Thanh Hà nằm bên sông Thu Bồn, cách phố cổ Hội An khoảng 3 km về phía Tây. Làng hình thành vào khoảng thế kỷ XVI-XVII, do thợ thủ công Thanh Hóa, Nghệ An vào dựng làng và mang theo nghề. Gốm làm từ đất sét nâu sông Thu Bồn, tạo hình bằng tay hoặc bàn xoay đạp chân, không khuôn, không tráng men, nung bằng lò củi. Năm 2019 nghề gốm Thanh Hà được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Ngôi nhà thờ mái ngói, hàng cột gỗ và hai bên tường vàng trong làng gốm Thanh Hà.
Một công trình thờ tự cổ trong làng gốm Thanh Hà.
Mục lục
  1. Một làng gốm đỏ bên sông Thu Bồn
  2. Sáu dòng họ từ Thanh Hóa vào dựng làng
  3. Gạch ngói cho kinh thành và những năm thịnh nhất
  4. Đất sét nâu sông Thu Bồn
  5. Từ bàn xoay đến lò củi
  6. Một làng suýt tàn
  7. Hồi sinh nhờ phố cổ và du khách
  8. Làm gì để gốm còn sống: đồ lưu niệm và con thổi
  9. Những gia đình giữ nghề
  10. Miếu tổ Nam Diêu và lễ giỗ tổ nghề
  11. Đến thăm làng gốm
  12. Câu hỏi thường gặp

Một làng gốm đỏ bên sông Thu Bồn

Muốn hiểu Hội An không chỉ qua những ngôi nhà vàng, hãy đi thêm 3 km về phía Tây phố cổ, đến bờ sông Thu Bồn. Ở đó có làng gốm Thanh Hà, người trong vùng còn gọi là làng gốm Nam Diêu. Sau sáp nhập, làng thuộc phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng.

Làng hình thành vào khoảng thế kỷ XVI-XVII, do một số thợ thủ công Thanh Hóa, Nghệ An vào dựng làng rồi mang theo nghề. Năm 2019 nghề gốm Thanh Hà được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Khu trung tâm làng hiện có 10 di tích đã được xếp hạng.

Bài này đi từ gốc: ai dựng làng, đất nào làm ra màu đỏ ấy, người thợ làm gốm ra sao, vì sao làng suýt tàn rồi hồi sinh. Cuối bài là chuyện giỗ tổ nghề và những việc nên làm khi đến thăm. Bối cảnh thương cảng nằm ở lịch sử Hội An, còn đường đi quanh khu phố cổ ở phố cổ Hội An.

Sáu dòng họ từ Thanh Hóa vào dựng làng

Theo lời cụ Võ Công Hề, một nghệ nhân cao tuổi của làng, người Thanh Hóa vì cuộc sống khó khăn mà di cư vào đất Quảng Nam lập nghiệp. Trong đoàn có sáu dòng họ vốn làm gốm ở Thanh Hóa: họ Võ, Nguyễn, Đinh, Ngô, Phạm, Huỳnh. Đến bờ sông Thu Bồn, họ thấy đất sét vùng này rất tốt cho việc làm gốm nên dừng chân lập làng. Từ đó có tên Thanh Hà, nghĩa là người Thanh Hóa sống bên bờ sông.

Cái tên ấy cổ hơn nhiều người tưởng. Tài liệu nghiên cứu đô thị cổ Việt Nam của Viện Sử học cho thấy tên làng Thanh Hà đã có từ trước năm 1626.

Gốm của làng có mặt ngay trong đô thị cổ: gạch đỏ cho các căn nhà cổ Hội An, cùng khạp, nồi, chum, ấm, vại, ngói.

Gạch ngói cho kinh thành và những năm thịnh nhất

Lúc đầu làng chỉ làm lu, bình bông, gạch ngói. Thời nhà Nguyễn, rất nhiều thợ gốm trong làng được mời ra kinh thành Huế làm gạch, ngói xây kinh thành và lăng tẩm cho các vua. Làng hưng thịnh nhất vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIX, được triều Nguyễn ghi vào sách Đại Nam nhất thống chí, phần Thổ sản Quảng Nam.

Đất sét nâu sông Thu Bồn

Mỗi làng gốm miền Bắc gắn với một màu đất. Gốm Thổ Hà (Bắc Giang) dùng sét xanh, Bát Tràng (Hà Nội) dùng sét trắng, Phù Lãng (Bắc Ninh) dùng sét vàng nâu. Gốm Thanh Hà lấy đất sét nâu dọc sông Thu Bồn, có độ dẻo và kết dính cao. Một nghệ nhân lớn tuổi trong làng nói rằng chính loại đất này làm nên nét riêng mà không làng nghề nào có được: gốm không men, chỉ có màu sành hoặc đỏ tự nhiên.

Đất lấy về chưa dùng ngay được. Người thợ phải trộn, xéo, nề, ủ đất cho đến khi nhuyễn mịn như bột bánh. Một khối đất còn phải qua tay nhiều lần như thế trước khi đưa lên bàn xoay.

Hàng đèn lồng đất nung màu đỏ cam, khoét lỗ hoa văn, đội mái ngói nhỏ.
Đèn lồng đất nung, món đồ đỏ làm nên tên Thanh Hà.

Từ bàn xoay đến lò củi

Gốm Thanh Hà tạo hình bằng tay hoặc bàn xoay đạp chân, không dùng khuôn, không tráng men, và nung bằng lò củi truyền thống. Khâu chuốt gốm, tạo dáng, là phần tinh hoa của nghề: sản phẩm thành hình qua bàn tay nghệ nhân, không có một khuôn thước nào.

Tạo hình xong, sản phẩm để se lại cho đến khi sờ tay vào không thấy dính, rồi mang ra nắng phơi hoặc hong nơi góc bếp cho thật khô mới nung. Lò được xếp khéo để món nào cũng không bị chèn ép mà vẫn tiết kiệm chỗ. Tùy sản phẩm, một mẻ nung kéo dài từ một đến ba ngày. Một người dân trong làng cho biết nhiệt độ nung khoảng 1.000 độ C.

Ra lò, gốm có màu đỏ đặc trưng và vang tiếng trong khi gõ, dấu hiệu của đồ tốt. So với gốm các vùng khác, gốm Thanh Hà nhẹ hơn. Đồ làm hằng ngày gồm chén, bát, chum, vại, bình hoa, chậu cảnh và các mô hình con vật.

Men thì sao? Người xưa đã có men riêng, nhưng chỉ dùng cho chum sành, gạch, ngói. Gốm tráng men chỉ mới xuất hiện gần đây: một gia đình trong làng phục chế công thức men tự pha từ vỏ nghêu, tro, hóa chất, lá cây rồi tráng lên đồ lưu niệm và đồ trang trí.

Một làng suýt tàn

Gốm Thanh Hà không phải lúc nào cũng thịnh. Đến những năm 1930, làng chỉ còn khoảng vài chục hộ làm gốm. Dòng Thu Bồn bồi lấp và sạt đất đã làm mất gần 1/3 làng. Một ông thợ lớn tuổi vẫn nhớ chỗ bãi bồi giữa sông, nơi những năm 1940 còn nối liền với làng và có 3 lò gốm lớn.

Sau này thêm một cú nữa. Khi kinh tế phát triển, đồ sành sứ, nhôm, inox, nhựa tràn vào, làm nồi, bếp, chén bát, chum vại của làng mất chỗ đứng. Đến năm 2001, khi Hội An bắt đầu khai thác tuyến du lịch làng gốm, nơi đây chỉ còn 8 cơ sở với 24 lao động.

Hồi sinh nhờ phố cổ và du khách

Năm 1999 Phố cổ Hội An được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới, và làng gốm đón một luồng gió mới từ du lịch. Năm 2004, UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt dự án khôi phục và phát triển làng nghề gắn với du lịch giai đoạn 2004-2007. Miếu Nam Diêu, nơi thờ tổ nghề gốm, và đình Xuân Mỹ được đưa vào tuyến tham quan.

Kết quả thấy được bằng số. Làng nay có 32 cơ sở sản xuất, 68 lao động trực tiếp tham gia hoạt động du lịch. Năm 2023 làng đón gần 600 nghìn lượt khách, trong đó 93% là khách quốc tế. Số khách đứng thứ ba trong các điểm đến của Hội An, chỉ sau khu phố cổ và rừng dừa Bảy Mẫu. Nghề gốm Thanh Hà cũng là thành tố quan trọng của Hội An khi thành phố gia nhập mạng lưới Thành phố sáng tạo của UNESCO.

Làng có khoảng 320 hộ, khoảng 1.000 dân, trong đó 105 hộ đang làm gốm.

Làm gì để gốm còn sống: đồ lưu niệm và con thổi

Muốn sống bằng nghề, gốm phải bán được cho người đến thăm. Cư dân làng Nam Diêu làm con thổi với 12 con giáp, gốm mỹ nghệ bằng khuôn đúc, mặt nạ gốm, tượng gốm, tượng Táo quân để phục vụ du lịch và thị trường. Du khách có cơ hội tự tay nhào nặn đất sét và tạo ra món quà lưu niệm của riêng mình.

Những gia đình giữ nghề

Nguyễn Viết Lâm, 25 tuổi, cùng vợ là Trần Thị Tuyết Nhung làm gốm tại lò gia truyền của gia đình. Tính đến đời Lâm, gia đình đã làm gốm ít nhất 6 thế hệ. Mẹ anh, bà Phạm Thị Mỹ Dung, là một thợ gốm nổi tiếng khắp vùng.

Anh phục chế công thức men gia truyền của nhà rồi tráng lên đồ lưu niệm và đồ trang trí. Mỗi tháng lò gốm nhà Lâm bán được hàng trăm sản phẩm khắp cả nước.

Miếu tổ Nam Diêu và lễ giỗ tổ nghề

Làng có hai kỳ tế trong năm. Lễ Tế xuân mở đầu một năm sản xuất, Tế thu kết thúc năm đó, đều tổ chức tại khu Miếu Tổ Nam Diêu. Ngoài ra là lễ giỗ tổ do người làng Nam Diêu tổ chức hằng năm vào trung tuần tháng 7 âm lịch.

Năm 2024, lễ giỗ tổ theo nghi thức cổ truyền gồm lễ rước kiệu Tổ nghề và lễ tế chính. Năm 2025, lễ diễn ra hai ngày 31/8 và 1/9. Đoàn rước kiệu xuất phát từ miếu Lùm Bà Dàng rồi về miếu tổ Nam Diêu để làm lễ tế. Phần hội có đua thuyền trên sông Thu Bồn.

Đến thăm làng gốm

Làng nằm cách trung tâm phố cổ Hội An khoảng 3 km về phía Tây, bên sông Thu Bồn. Bạn có thể đi dạo giữa các xưởng, xem thợ chuốt gốm, vào miếu Nam Diêu và đình Xuân Mỹ, và tự tay nhào đất làm một món lưu niệm.

Gần làng có Công viên Đất nung Thanh Hà. Công viên rộng 6.000 m², trưng bày sản phẩm gốm và tái hiện bằng đất nung nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới. Nếu đến đúng ngày lễ giỗ tổ, bạn sẽ thấy làng ở trạng thái đẹp nhất: rước kiệu, tế lễ và đua thuyền cùng một lúc.

Mua gì mang về? Chén, bát, bình hoa, chậu cảnh, con thổi 12 con giáp. Gốm Thanh Hà nhẹ hơn đồ cùng loại ở các vùng khác. Nếu muốn đọc kỹ hơn, Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An đã biên soạn và xuất bản tập sách “Làng Thanh Hà - Hội An” năm 2024, trong đó có phần di sản tư liệu Hán Nôm của làng.

Từ Thanh Hà, bạn có thể đi tiếp ra bờ sông Hoài ở phố cổ, nơi bạn có thể đi tiếp bằng đường phố cổ.

Nguồn ảnh

Câu hỏi thường gặp

Làng gốm Thanh Hà có từ bao giờ?

Làng hình thành vào khoảng thế kỷ XVI-XVII, khi một số thợ thủ công từ Thanh Hóa, Nghệ An vào dựng làng và mang theo nghề. Tên làng Thanh Hà đã có từ trước năm 1626.

Gốm Thanh Hà làm từ đất gì?

Từ đất sét nâu lấy dọc sông Thu Bồn, có độ dẻo và kết dính cao. Đất được trộn, xéo, nề, ủ cho đến khi nhuyễn mịn như bột bánh.

Gốm Thanh Hà khác gốm Bát Tràng thế nào?

Gốm Bát Tràng làm từ sét trắng, gốm Thổ Hà từ sét xanh, gốm Phù Lãng từ sét vàng nâu, còn gốm Thanh Hà từ sét nâu sông Thu Bồn. Gốm Thanh Hà nhẹ hơn và thường không tráng men.

Lễ giỗ tổ nghề gốm Thanh Hà tổ chức khi nào?

Lễ giỗ tổ do người làng Nam Diêu tổ chức hằng năm vào trung tuần tháng 7 âm lịch. Năm 2025 lễ diễn ra hai ngày 31/8 và 1/9.

Làng gốm Thanh Hà cách phố cổ Hội An bao xa?

Khoảng 3 km về phía Tây, bên bờ sông Thu Bồn. Sau sáp nhập, làng thuộc phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng.

Đến Thanh Hà có được tự tay làm gốm không?

Có. Du khách có thể tự tay nhào nặn đất sét và tạo ra những món quà lưu niệm. Nhiều gia đình trong làng mở cửa đón khách.

Nghề gốm Thanh Hà được công nhận di sản năm nào?

Năm 2019, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận nghề gốm Thanh Hà là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Đọc tiếp

Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).

Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.