Hội An

Sông Hoài Hội An: Lịch sử bến cảng, thả hoa đăng và đi thuyền

Sông Hoài là nhánh sông Thu Bồn chảy qua phố cổ Hội An, mang tên làng Hoài Phô nơi phố Nhật xưa đặt chân. Từ thế kỷ XVII, đây là bến sông của một thương cảng quốc tế sầm uất. Đêm 14 âm lịch, điện phố cổ tắt và hoa đăng thả đầy sông. Thuyền niêm yết 150.000-200.000 đồng một chuyến 15-20 phút, hoa đăng 5.000-10.000 đồng.

Sông Hoài lặng nước với cầu bắc ngang, hai bên bờ là dãy nhà phố cổ treo đèn lồng, in bóng xuống mặt nước.
Sông Hoài và cầu nhìn về phố cổ Hội An.
Mục lục
  1. Sông Hoài là sông nào
  2. Trước khi có phố: Sa Huỳnh và cảng của người Chăm
  3. Cái tên Hoài và cái tên Faifo
  4. Bến sông của phố Nhật và phố Hoa
  5. Hội quán và Chùa Cầu nhìn ra sông
  6. Con sông đổi dòng, thương cảng lui dần
  7. Đi thuyền trên sông Hoài
  8. Thả hoa đăng
  9. Chợ đêm bên sông
  10. Ăn gì gần bờ sông
  11. Câu hỏi thường gặp

Sông Hoài là sông nào

Sông Hoài là đoạn sông Thu Bồn chảy qua phố cổ Hội An. Phố cổ nằm bên dòng sông Hoài, một nhánh của “sông Mẹ” Thu Bồn. Dòng chính Thu Bồn chảy giữa hai cồn Cẩm Nam và Cẩm Kim, còn nhánh sát phố cổ là nhánh có sách gọi là sông Hội An.

Hành trình của “sông Mẹ” bắt đầu rất xa: Thu Bồn khởi nguyên từ những dòng suối nhỏ trong rừng quế và sâm Ngọc Linh, trên đỉnh núi Ngọc Linh cao hơn 2.500 m. Ở thượng nguồn con sông mang cái tên quê mùa là sông Tranh; khi hợp lưu với sông Vu Gia mới thành Thu Bồn. Vào tháng 3 hằng năm, cư dân vùng Duy Xuyên tổ chức lễ hội bà Thu Bồn.

Phố cổ chia đôi quanh sông: phía bắc là khu phố cổ chính với Trần Phú, Nguyễn Thái Học, qua cầu về phía nam là Cẩm Nam. Những cây cầu nổi tiếng bắc qua sông gồm cầu Ấn Tượng và cầu Cẩm Nam.

Trước khi có phố: Sa Huỳnh và cảng của người Chăm

Vùng đất quanh sông có người ở từ rất lâu. Riêng khu vực Hội An đã phát hiện hơn 50 địa điểm của văn hóa Sa Huỳnh, phần lớn trên các cồn cát ven dòng Thu Bồn cũ. Hội An sau này lớn lên trên nền cảng biển của người Chăm, còn người Việt bắt đầu đến đây từ thế kỷ XV. Con đường nước nối Hội An với biển Cửa Hàn nay còn dấu vết là sông Cổ Cò - Đế Võng; trên thủy trình cổ ấy người ta đã tìm thấy nhiều lô tàu và mỏ neo bị chôn vùi trong lòng đất.

Ra ngoài khơi, câu chuyện nối tiếp ở Cù Lao Chàm.

Cái tên Hoài và cái tên Faifo

Tên sông đến từ làng. Phố Nhật xưa nằm ở làng Hoài Phô, một làng cổ lâu đời, nên đoạn sông Thu Bồn qua phố Hội An được gọi là sông Hoài. Làng Hoài Phô có tên trong sách Ô châu cận lục (1555). Sang thế kỷ XVIII, làng đổi tên là Hoa Phô, về sau thành làng Sơn Phô.

Tên Faifo mà người Pháp dùng để gọi Hội An cũng bắt nguồn từ tên làng, tên sông ấy. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes in ở Roma năm 1651 định nghĩa chữ Hoài phô là một làng ở xứ Cochinchine, nơi người Nhật ở và gọi là Faifo.

Bến sông của phố Nhật và phố Hoa

Chúa Nguyễn cho thương nhân Nhật Bản và Trung Quốc chọn một nơi gần thương cảng Hội An để lập phố buôn bán và cư trú lâu dài. Từ thế kỷ XVII, Hội An là thương cảng quốc tế sầm uất bên dòng sông này. Phố Nhật nằm ở hạ lưu, phố người Hoa ở thượng lưu.

Phố Nhật hình thành khoảng năm 1617 và cực thịnh trong đầu thế kỷ XVII. Vị thị trưởng đầu tiên được công nhận, năm 1618, là Furamoto Yashiro. Một tấm bia khắc năm 1640 ở Ngũ Hành Sơn nhắc đến dinh Nhật Bổn chín lần. Trong ba mươi năm, 75 tàu Châu Ấn của Nhật cập cảng Hội An, trong khi Đông Kinh chỉ có 37 tàu. Năm 1651, một thuyền trưởng người Hà Lan ghi lại khoảng 60 căn nhà của người Nhật dọc bờ sông, nhà xây bằng đá để tránh hỏa hoạn.

Nhìn vào tấm bản đồ hàng hải năm 1787 của Le Floch de la Carrière, bạn thấy ngay cửa sông Fayfo: bờ sông, các cụm nhà, chữ “Ville de Fayfo” và “Rivière de Fayfo”. Bản đồ vẽ cả Fayfo (Hội An) lẫn vịnh Tourane (Đà Nẵng). Tác giả đã đến Việt Nam năm 1755-1756, và bản năm 1787 là phiên bản thứ hai ông vẽ cho vùng này.

Phần bản đồ hàng hải cổ vẽ tay, có bờ sông, cụm nhà, các dòng chữ Ville de Fayfo và Rivière de Fayfo, vịnh Tourane ở bên phải.
Đoạn cửa sông Fayfo (Hội An) trong bản đồ hàng hải năm 1787 của Le Floch de la Carrière (lưu ở BnF, Gallica).

Năm 1695, nhà sư Thích Đại Sán đến Hội An và ghi lại trong Hải ngoại ký sự. Ông tả một con đường dài 3-4 dặm chạy thẳng dọc bờ sông, gọi là Đại Đường Nhai. Cũng thời điểm ấy, Bowyear mô tả hải cảng chỉ có một con đường phố lớn trên bờ sông, hai bên có hai dãy nhà 100 nóc, toàn người Trung Hoa ở.

Gốm Thanh Hà và nhiều sản phẩm làng nghề xuôi theo sông, qua thương cảng Hội An, ra với thế giới từ thế kỷ XVII.

Tranh khắc màu cổ cảnh một dòng sông rộng, thuyền buồm và thuyền nhỏ chở người, tháp canh gỗ bên bờ phải, núi ở phía xa.
Faifo trong sách du ký A Voyage to Cochinchina của John Barrow (London, 1806).

Nhìn tranh khắc màu năm 1806 trong sách du ký của John Barrow, bạn thấy một Faifo khác hẳn bây giờ: thuyền buồm, thuyền nhỏ chở người, một tháp gỗ bên bờ. Tranh có tên “Faifo”, in trong sách A Voyage to Cochinchina, London, 1806.

Hội quán và Chùa Cầu nhìn ra sông

Phố cổ có năm hội quán của năm cộng đồng người Hoa: Phúc Kiến, Trung Hoa (hội quán Ngũ Bang), Triều Châu, Quỳnh Phủ và Quảng Đông. Các hội quán đều nằm trên đường Trần Phú và quay mặt chính ra sông.

Chùa Cầu dài khoảng 18 m, bắc qua một lạch nước nhỏ chảy ra sông Thu Bồn. Bản đồ Thiên Nam tứ chí lộ đồ năm 1630 đã ghi tên “Hội An Kiều” và vẽ một cây cầu có mái. Cầu theo kiểu “thượng gia hạ kiều”, trên là nhà, dưới là cầu. Trên cửa ngôi chùa nhỏ gắn với cầu treo bức hoành “Lai Viễn Kiều”, do chúa Nguyễn Phúc Chu ban tặng năm 1719.

Con sông đổi dòng, thương cảng lui dần

Sau thời thịnh vượng, Hội An không còn giữ được vị thế thương cảng hàng đầu. Phần do biến đổi địa lý, phần do chính sách của nhà Nguyễn coi trọng cảng Đà Nẵng hơn. Thế kỷ XIX, sông Thu Bồn và sông Chợ Củi đổi dòng, nhiều đoạn lạch sâu trước kia bị bồi lấp, cạn đi và hình thành những khu đất mới. Cửa Đại bị bồi cạn là một trong những nhân tố dẫn đến sự suy thoái của thương cảng. Đến năm 1847, chỉ còn cửa biển Đà Nẵng là nơi có nhiều tàu thuyền qua lại.

Bùn đất bồi làm cạn con nước nhưng sinh ra đất mới cho phố. Đường Nguyễn Thái Học và đường Bạch Đằng hình thành muộn hơn, đều do bùn đất bồi lấp. Nguyễn Thái Học xuất hiện năm 1840; Bạch Đằng ra đời năm 1878, nằm sát bờ sông nên xưa gọi là Đường Bờ Sông.

Ngày 9/10/1888, vua Thành Thái ra dụ thành lập thị xã Faifo (Hội An) làm tỉnh lỵ Quảng Nam. Ngày 9/10/1905, tuyến đường xe lửa được khai thông. Năm 1999, phố cổ Hội An được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Chuyện đầy đủ ở bài lịch sử Hội An và phố cổ Hội An.

Mùa mưa bão, đường Nguyễn Thái Học và vùng quanh đó thường ngập, dân phải dùng thuyền đi mua sắm và đến quán ăn.

Đi thuyền trên sông Hoài

Chèo thuyền đưa khách tham quan là nghề chính của nhiều người dân ven sông. Thuyền trên sông không gắn động cơ máy.

Giá thuê thuyền niêm yết tại các bến, khoảng 150.000-200.000 đồng cho chuyến 15-20 phút. Một thuyền nhỏ thường chở tối đa 4-5 khách. Hỏi giá ở bến và đếm đủ người trước khi xuống thuyền. Nhớ mặc áo phao.

Thời điểm đẹp nhất là từ 18:00 đến 20:00, khi phố lên đèn. Muốn vắng người và chụp ảnh rõ hơn, đi lúc hoàng hôn khoảng 17:30.

Thả hoa đăng

Lễ hội hoa đăng bắt nguồn từ tín ngưỡng Phật giáo, được tổ chức thường xuyên ở phố cổ từ năm 1998. Muốn xem đúng đêm đẹp nhất, đến vào ngày 14 âm lịch hằng tháng. Đêm đó toàn bộ đèn điện phố cổ tắt, hàng nghìn đèn lồng thắp sáng, thuyền thả hoa đăng đầy sông Hoài. Ngày 14 và 15 âm lịch đều có hoa đăng thả trên sông.

Những chiếc thuyền đậu bên bến, treo đèn lồng nhiều màu sáng rực, bờ phố cổ lên đèn phía xa trong đêm.
Thuyền treo đèn lồng bên sông ở Hội An về đêm.

Đèn hoa đăng làm bằng giấy thủ công nhiều màu, có nến bên trong, giá khoảng 5.000-10.000 đồng một chiếc. Bạn thả đèn tại các bến dọc hai bên bờ, hoặc thuê thuyền chở ra xa để thả.

Chợ đêm bên sông

Chợ đêm tập trung ở hai khu: đường Nguyễn Hoàng bán đồ mua sắm và đèn lồng, Công Nữ Ngọc Hoa bán đồ ăn địa phương. Chợ không thu vé riêng và thường mở khoảng 17:00 đến 23:00.

Ăn gì gần bờ sông

Đã ra Hội An thì thử cao lầu, mì Quảng và bánh bèo. Đồ chấm đi kèm thì có tương ớt Hội An. Chuyến đi trong ngày ra biển cũng nên tính: xem Cù Lao Chàm.

Nguồn ảnh

Câu hỏi thường gặp

Vì sao gọi là sông Hoài?

Phố Nhật xưa nằm ở làng Hoài Phô, nên đoạn sông Thu Bồn chảy qua phố Hội An được gọi là sông Hoài. Từ điển của Alexandre de Rhodes in năm 1651 định nghĩa Hoài phô là làng người Nhật ở, gọi là Faifo.

Sông Hoài có phải sông riêng không?

Không. Sông Hoài là một nhánh của sông Thu Bồn, "sông Mẹ" của xứ Quảng. Dòng chính Thu Bồn chảy giữa hai cồn Cẩm Nam và Cẩm Kim.

Đi thuyền trên sông Hoài giá bao nhiêu, một thuyền chở mấy người?

Giá thuê thuyền niêm yết tại các bến, khoảng 150.000-200.000 đồng cho chuyến 15-20 phút. Một thuyền nhỏ thường chở tối đa 4-5 khách.

Mấy giờ đi thuyền sông Hoài đẹp nhất?

Từ 18:00 đến 20:00, khi phố lên đèn. Muốn vắng người hơn, đi lúc hoàng hôn khoảng 17:30.

Thả hoa đăng sông Hoài vào ngày nào, giá bao nhiêu?

Đẹp nhất là đêm 14 âm lịch hằng tháng, khi toàn bộ đèn điện phố cổ tắt; ngày 14 và 15 âm lịch đều thấy hoa đăng thả trên sông. Mỗi chiếc đèn giá khoảng 5.000-10.000 đồng.

Chợ đêm Hội An mở mấy giờ?

Chợ đêm không thu vé riêng và thường hoạt động từ khoảng 17:00 đến 23:00. Chợ có hai khu: đường Nguyễn Hoàng bán đồ mua sắm, đèn lồng và Công Nữ Ngọc Hoa bán đồ ăn địa phương.

Phố cổ Hội An được UNESCO công nhận năm nào?

Năm 1999, Di sản Văn hóa Thế giới.

Đọc tiếp

Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).

Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.