Lịch sử Hội An: thương cảng Faifo, Chùa Cầu và phố cổ
Hội An thành thương cảng lớn của xứ Đàng Trong từ cuối thế kỷ XVI, khi chúa Nguyễn cho thương nhân Nhật và Hoa lập phố riêng ở đây. Trước đó vùng này đã có giao thương từ thế kỷ II trước Công nguyên. Cảng suy dần vào thế kỷ XIX vì cửa Đại bồi cạn và triều Nguyễn coi trọng cảng Đà Nẵng hơn. UNESCO ghi danh phố cổ ngày 4/12/1999.

Mục lục
- Trước khi có tên Hội An
- Hội An và Faifo: chuyện cái tên
- Cuối thế kỷ XVI: chúa Nguyễn mở cảng
- Phố Nhật
- Phố người Hoa và những thương nhân khác
- Chùa Cầu: cây cầu nối hai phố
- 1775: thương khu bị triệt phá
- Thế kỷ XIX: cửa Đại bồi cạn, Đà Nẵng lên thay
- Faifo thời Pháp thuộc
- Bị quên lãng, rồi được nhìn lại
- Đi xem ở đâu
- Câu hỏi thường gặp
Trước khi có tên Hội An
Dấu tích cư trú xa xưa nhất còn lại ở Hội An là văn hóa Sa Huỳnh, hình thành khoảng thế kỷ III trước Công nguyên cho đến đầu Công nguyên. Chỉ riêng trong thành phố Hội An đã tìm thấy hơn 50 địa điểm của nền văn hóa này. Những đồng tiền Trung Quốc thời Hán tìm được ở đây cho thấy ngay từ đầu Công nguyên nơi này đã có giao dịch ngoại thương. Chứng cứ khảo cổ cũng cho thấy khu vực đã có giao thương từ thế kỷ II trước Công nguyên.
Sau Sa Huỳnh, từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 15, dải đất miền Trung nằm dưới sự thống trị của vương quốc Chăm Pa. Thời các vương triều Chăm, thế kỷ 7-10, nơi này là trung tâm kinh tế, thương nhân châu Á, Ba Tư và Ả Rập đến buôn bán. Một ghi chép của thương nhân Ả Rập thế kỷ IX đã nhắc đến khu vực này. Chuyện người Chăm ở Quảng Nam, xem Thánh địa Mỹ Sơn.
Năm 1471, thủ phủ cuối cùng của Chăm Pa ở Bầu Giá, Bình Định, bị nhà Lê chiếm. Hội An hình thành trên cảng biển do người Chăm để lại, và người Việt bắt đầu tới đây từ thế kỷ 15.
Hội An và Faifo: chuyện cái tên
Cái tên Hội An đến muộn hơn người ta tưởng. Năm 1553, huyện Điện Bàn có 66 xã, trong đó có Hoài Phô, Cẩm Phô, Lai Nghi, nhưng chưa thấy tên Hội An được ghi lại. Dưới thời Lê, bản đồ do đại thần Đỗ Bá vẽ, in trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ, ghi lần đầu các địa danh Hội An phố, Hội An đàm và Hội An kiều. Thời chúa Nguyễn Phúc Lan, làng Minh Hương được lập bên cạnh làng Hội An đã có từ trước.
Người phương Tây gọi nơi này là Faifo. Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes in ở Roma năm 1651 định nghĩa Hoài Phô là một làng trong xứ Cochinchine mà người Nhật ở và gọi là Faifo. Tên Faifo bắt nguồn từ tên làng Hoài Phô và sông Hoài. Về sau, trên bản đồ chính thức của chính quyền Đông Dương, người Pháp đều dùng tên Faifo để chỉ Hội An.
Cuối thế kỷ XVI: chúa Nguyễn mở cảng
Giới sử học cho rằng thương cảng Hội An bắt đầu thành hình vào cuối thế kỷ XVI trên vùng đất Thuận Quảng của chúa Nguyễn. Hội An ra đời khoảng nửa cuối thế kỷ 16. Từ sau năm 1570, Nguyễn Hoàng tiếp tục nắm quyền trấn thủ Quảng Nam, mở rộng giao thương với nước ngoài, và Hội An trở thành một trong những thương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất Đông Nam Á thời ấy.
Bối cảnh bên ngoài giúp cảng lên nhanh. Năm 1567, triều Minh bỏ chủ trương cấm biển. Chúa Nguyễn cho nhiều kiều dân nước ngoài, nhất là người Hoa và người Nhật, ở lại lập phố, mở cửa hàng buôn bán và sống theo phong tục riêng. Từ đó ở Hội An hình thành hai khu phố tự trị của người Nhật và người Hoa.
Cục Di sản văn hóa mô tả thời cực thịnh: tàu thuyền các nước hằng năm cập bến và mở hội chợ từ 4 đến 6 tháng liền. Trong nửa đầu thế kỷ 17, Hội An là trung tâm mậu dịch lớn nhất của Đàng Trong. Hội An khi ấy hấp dẫn không chỉ thương nhân mà cả nhà truyền giáo, nhà thám hiểm. Từ thế kỷ 15 đến 19, nơi này là một thương điếm lớn của Đông Nam Á.
Phố Nhật
Tàu Châu Ấn của Nhật bắt đầu xuất dương từ năm 1604 dưới thời Mạc phủ Tokugawa. Trong số tàu Châu Ấn đến Việt Nam, 86 trong tổng số 130 chiếc đã cập Hội An. Thương nhân Nhật mang đồng, tiền đồng, sắt và đồ gia dụng sang bán, rồi mua lại đường, tơ lụa và trầm hương. Thương khách châu Âu thời đó xem Hội An như hải cảng của người Nhật.
Khoảng năm 1617, phố Nhật ở Hội An hình thành và phát triển cực thịnh trong đầu thế kỷ 17. Phố Nhật nằm ở phía đông, hạ lưu sông; phố người Hoa ở phía tây, thượng lưu. Bức tranh cuộn Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ của Chaya Shinroku cho thấy khu phố Nhật với những công trình gỗ hai, ba tầng.
Năm 1651, thuyền trưởng người Hà Lan Delft Haven ghi lại rằng Hội An khi đó có khoảng 60 căn nhà của người Nhật dọc bờ sông, xây bằng đá để tránh hỏa hoạn và nằm sát vách nhau. Một tấm bia ở Ngũ Hành Sơn nhắc đến dinh Nhật Bổn chín lần. Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy rất nhiều hiện vật liên quan đến người Nhật.
Rồi phố Nhật mờ dần. Do chính sách bế quan của Mạc phủ Tokugawa cùng chính sách đàn áp người Nhật Công giáo của chúa Nguyễn, khu phố Nhật dần lu mờ, còn người Hoa thay vai trò buôn bán của họ. Phố Nhật tồn tại đến cuối thế kỷ 17, số người Nhật còn lại kết hôn với người Hoa, người Việt và phai nhạt dần. Về sau, người Việt và người Hoa xây lại thành phố trên đống đổ nát theo kiến trúc của mình, và dấu vết khu phố Nhật bị xóa đi. Còn lại là những ngôi mộ của người Nhật, người Hoa cùng chiếc cầu mang tên cầu Nhật Bản.
Phố người Hoa và những thương nhân khác
Người Hoa biết đến Hội An sớm hơn người Nhật. Sau khi nhà Minh thất thủ, rất nhiều người Hoa di cư tới miền Trung Việt Nam và lập nên nhiều cộng đồng Minh Hương xã. Khu phố ven sông gọi là Đại Đường, kéo dài 3, 4 dặm. Dân cư ở đây phần lớn là người Phúc Kiến.
Hội An thế kỷ 17 còn có cả thương điếm Hà Lan. Năm 1695, sứ giả người Anh Thomas Bowyear của Công ty Đông Ấn Anh đến đàm phán với chúa Nguyễn về việc xây một khu cư trú ở Hội An. Cuộc đàm phán không thành.

Dấu vết rõ nhất của người Hoa là các hội quán. Tấm ảnh trên là Hội quán Triều Châu, chụp khoảng giữa năm 1891 và 1898. Ảnh nằm trong một album do nhà ảnh Gustave Trumelet-Faber làm, lưu ở Thư viện Quốc gia Pháp, ghi tên nơi này là “Fei-Foo”. Cùng album còn một ảnh chụp các vị đứng đầu bang người Hoa ở Faifo, cùng khoảng thời gian.

Năm hội quán còn lại ngày nay, và chuyện từng hội quán, nằm ở bài Phố cổ Hội An.
Chùa Cầu: cây cầu nối hai phố
Chùa Cầu là cây cầu nối khu phố Nhật với khu phố Hoa. Một tài liệu của Tổng cục Du lịch ghi người Nhật làm cầu khoảng năm 1593. Cầu được xây từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII với tên Cầu Nhật Bản, để người Hoa kiều và Nhật kiều qua lại buôn bán.
Năm 1630, Thiên Nam tứ chí lộ đồ đã vẽ một cây cầu có mái ở Hội An. Nhà sư Thích Đại Sán nhắc đến cầu trong Hải ngoại ký sự năm 1695. Năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu qua Hội An, thấy thuyền buôn tụ họp đông bên sông Hoài nên đặt tên cầu là Lai Viễn Kiều, nghĩa là khách phương xa đến. Dáng cầu ngày nay hình thành qua những lần sửa chữa vào thế kỷ 18 và 19.
Cầu dài khoảng 18 mét, bắc qua một lạch nhỏ chảy ra sông Thu Bồn. Cầu làm theo kiểu “trên là nhà, dưới là cầu”. Hai bên mặt cầu có bệ gỗ nhỏ, xưa dùng bày hàng bán. Người Hoa làm miếu trên cầu để thờ Bắc Đế nên dân gọi là chùa Cầu. Ngôi chùa rất nhỏ thờ Huyền Thiên Đại Đế gắn liền với cầu được dựng sau cầu khoảng nửa thế kỷ.
Mỗi đầu cầu có hai bức tượng thú, một bên khỉ, một bên chó. Một cách giải thích cho rằng công trình khởi dựng vào năm Thân và hoàn thành vào năm Tuất. Còn dân gian kể rằng người Nhật xây cầu để chế ngự con thủy quái làm đất rung chuyển mỗi lần nó trở mình.

1775: thương khu bị triệt phá
Năm 1775 chúa Trịnh đánh chiếm Quảng Nam dinh, cảng thị Hội An rơi vào chiến tranh loạn lạc. Quân Trịnh triệt phá nhà cửa khu thương mại, chỉ để lại các công trình tín ngưỡng.
Năm 1778, một người Anh là Charles Chapman đi qua và ghi lại nỗi xót xa trước cảnh hoang tàn: “Trời ơi, những công trình ấy bây giờ chỉ còn đọng lại trong ký ức mà thôi”. Khoảng 5 năm sau, cảng thị dần hồi sinh, nhưng buôn bán không còn được như trước.
Tấm tranh khắc dưới đây vẽ cảnh sông Faifo trong cuốn ghi chép chuyến đi Đàng Trong của John Barrow. Cuốn sách kể chuyến đi năm 1792 và 1793, in ở Luân Đôn năm 1806.

Thế kỷ XIX: cửa Đại bồi cạn, Đà Nẵng lên thay
Sang thế kỷ 19, cửa Đại ngày càng thu hẹp và sông Cổ Cò bị phù sa bồi lấp, khiến thuyền lớn không còn ghé được cảng Hội An. Khi không còn đầm hồ đủ sâu và rộng cho tàu neo đậu, ý nghĩa kinh tế của Hội An giảm dần. Một phần cảng suy vì biến đổi địa lý, một phần vì triều Nguyễn coi trọng cảng Đà Nẵng hơn. Cửa Đại bồi cạn là một nhân tố của sự suy thoái ấy.
Cục Di sản văn hóa viết rằng thương cảng thuyền buồm nhường chỗ cho thương cảng thuyền máy Đà Nẵng từ cuối thế kỷ 19. Năm 1888, khi Đà Nẵng thành nhượng địa của Pháp, nhiều người Hoa tới đó lập cơ sở vận tải và thương mại. Chuyện cảng Đà Nẵng, xem Đà Nẵng 1858.
Hội An không chết hẳn. Năm Minh Mạng thứ 5, nhà vua qua Hội An, thấy nơi đây không còn sầm uất như xưa nhưng vẫn hưng thịnh hơn các thị trấn khác của người Việt. Phần lớn nhà ở và hội quán còn lại đến nay có dáng hình từ giai đoạn này.
Faifo thời Pháp thuộc
Thời Pháp thuộc, phố Trần Phú mang tên Rue du Pont Japonais, nghĩa là phố cầu Nhật Bản. Khu phố phía đông phố cổ từng là khu phố của người Pháp. Trên đường Phan Bội Châu, dãy phố phía tây xây san sát những ngôi nhà mặt đứng kiểu châu Âu, đa số một tầng. Ảnh chụp Faifo từ máy bay Bréguet 14 trong những năm 1925-1930 còn được lưu lại; bạn có thể xem ở bài Phố cổ Hội An.
Bị quên lãng, rồi được nhìn lại
Khi tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng thành lập năm 1976, Đà Nẵng trở thành tỉnh lỵ, và Hội An rơi vào thời kỳ bị quên lãng. Từ thập niên 1980, các học giả Việt Nam, Nhật Bản và phương Tây bắt đầu chú ý đến Hội An. Năm 1993, Nhật Bản và Việt Nam cùng bắt đầu một chương trình gìn giữ, bảo tồn Hội An.
Ngày 4/12/1999, UNESCO ghi danh Hội An vào danh sách Di sản Văn hóa Thế giới. Phố cổ giữ được mạng lưới đô thị truyền thống và kiến trúc nhà cổ từ thế kỷ 15-19 không bị phá vỡ. UNESCO ghi danh theo hai lý do: Hội An là biểu hiện nổi bật của sự hòa trộn các nền văn hóa trong một thương cảng quốc tế, và là điển hình của một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn hoàn hảo.
Theo thống kê tháng 12 năm 2000, Hội An có 1.360 di tích, trong đó 1.068 nhà cổ, 11 giếng nước cổ, 38 nhà thờ tộc, 19 ngôi chùa, 43 miếu thờ thần, 23 đình, 44 mộ cổ loại đặc biệt và 1 cây cầu. Cục Di sản văn hóa gọi sự tồn tại của một đô thị như Hội An là trường hợp duy nhất ở Việt Nam và hiếm thấy trên thế giới.
Đi xem ở đâu
Muốn đi thăm, giá vé, giờ bán vé và khoảng cách từ Đà Nẵng: Phố cổ Hội An. Một món ăn mang dấu vết thương cảng, xem cao lầu; chuyện về món mì của cả xứ Quảng ở mì Quảng.
Nguồn ảnh
- Tranh cuộn thế kỷ 17 của Chaya Shinroku vẽ chuyến đi buôn tới Giao Chỉ: Wikimedia Commons — Chaya Shinroku, Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ (thế kỷ 17), phạm vi công cộng (opens in a new tab) (Public domain)
- Hội quán Triều Châu ở "Fei-Foo", ảnh chụp trong những năm 1890: Wikimedia Commons — album Gustave Trumelet-Faber, BnF Gallica (1891-1898), phạm vi công cộng (opens in a new tab) (Public domain)
- Các vị đứng đầu bang người Hoa ở "Fei-Foo", ảnh chụp trong những năm 1890: Wikimedia Commons — album Gustave Trumelet-Faber, BnF Gallica (1891-1898), phạm vi công cộng (opens in a new tab) (Public domain)
- Chùa Cầu sau trùng tu năm 2024: Wikimedia Commons — Chainwit. (opens in a new tab) (CC BY 4.0)
- Sông ở Faifo (Hội An) trong ghi chép chuyến đi Đàng Trong của John Barrow: Wikimedia Commons — John Barrow, A voyage to Cochinchina (1806), phạm vi công cộng (opens in a new tab) (Public domain)
Câu hỏi thường gặp
Hội An có từ bao giờ?
Chứng cứ khảo cổ cho thấy khu vực này đã có giao thương từ thế kỷ II trước Công nguyên. Thời các vương triều Chăm (thế kỷ 7-10), nơi đây là trung tâm kinh tế, thương nhân châu Á, Ba Tư và Ả Rập đến buôn bán. Thương cảng Hội An của chúa Nguyễn hình thành từ cuối thế kỷ XVI.
Faifo có nghĩa là gì?
Faifo là tên phương Tây gọi Hội An, bắt nguồn từ tên làng Hoài Phô và sông Hoài. Từ điển của Alexandre de Rhodes in ở Roma năm 1651 đã định nghĩa Hoài Phô là một làng trong xứ Cochinchine mà người Nhật ở và gọi là Faifo.
Chùa Cầu Hội An do ai xây, khi nào?
Chùa Cầu được xây từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII với tên gọi Cầu Nhật Bản, để người Hoa và người Nhật qua lại buôn bán. Năm 1719, chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên cầu là Lai Viễn Kiều.
Phố Nhật ở Hội An ra đời năm nào?
Khoảng năm 1617, phố Nhật Bản ở Hội An được hình thành và phát triển cực thịnh trong đầu thế kỷ 17. Tàu Châu Ấn của Nhật bắt đầu xuất dương từ năm 1604.
Vì sao người Nhật rời Hội An?
Do chính sách bế quan của Mạc phủ Tokugawa cùng chính sách đàn áp người Nhật Công giáo của chúa Nguyễn, khu phố Nhật dần bị lu mờ, còn người Hoa dần thay thế vai trò buôn bán của họ.
Vì sao Hội An suy tàn?
Một phần do biến đổi địa lý, một phần do triều Nguyễn coi trọng cảng Đà Nẵng hơn. Cửa Đại bồi cạn là một nhân tố của sự suy thoái.
Hội An có bị tàn phá không?
Năm 1775 chúa Trịnh đánh chiếm Quảng Nam dinh, cảng thị rơi vào chiến tranh loạn lạc. Quân Trịnh triệt phá nhà cửa khu thương mại, chỉ để lại các công trình tín ngưỡng.
UNESCO ghi danh Hội An năm nào?
Ngày 4/12/1999 tại Marrakech (Morocco).
Đọc tiếp
- Thánh địa Mỹ Sơn: lịch sử, kiến trúc, giá vé và cách điKiểm tra ngày 18/10/2026
- Phố cổ Hội An: lịch sử, nhà cổ, hội quán, đêm rằm và giá véKiểm tra ngày 18/10/2026
- Đà Nẵng 1858: tấn công cửa biển qua tranh, bản đồ và châu bảnKiểm tra ngày 18/10/2026
- Cao lầu Hội An: Lịch sử, nghề làm sợi và ba quán nên ghéKiểm tra ngày 18/10/2026
Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).
Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.