Con người

Bài chòi: trò chơi hô thai và di sản UNESCO của xứ Quảng

Bài chòi là trò chơi đánh bài trong những chiếc chòi tre dựng dịp Tết, nơi anh Hiệu rút thẻ bài rồi hát câu hô thai để đố người chơi. Nghệ thuật này còn một dạng nữa là biểu diễn trên chiếu. UNESCO ghi danh bài chòi Trung bộ ngày 7/12/2017. Ở Hội An, mỗi buổi tối nghệ nhân vẫn hô hát tại bùng binh An Hội trong phố cổ.

Cảnh buổi tối ở Hội An, một người đàn ông mặc áo lụa xanh nhạt hát vào micro bên cạnh một phụ nữ và một người đàn ông đứng cạnh giá màu vàng, phía sau có trống và những tấm bảng vẽ.
Một buổi bài chòi ở Hội An, người dẫn trò hát câu hô trước khán giả buổi tối. Ảnh Lê Tấn Lộc, CC BY-SA 3.0.
Mục lục
  1. Bài chòi là gì
  2. Một cái tên, hai cách chơi
  3. Nguồn gốc: hai cách kể
  4. Dựng chòi, mở hội
  5. Bộ bài ba mươi ba con
  6. Hô thai: câu hát đố người chơi
  7. Anh Hiệu, chị Hiệu
  8. Từ chòi ra chiếu, từ chiếu lên sân khấu
  9. Bài chòi ở Hội An
  10. Nghe bài chòi ở đâu, khi nào
  11. Vì sao đáng giữ
  12. Câu hỏi thường gặp

Bài chòi là gì

Bài chòi là một nghệ thuật pha trộn âm nhạc, thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn chương. Nó có hai dạng chính. Một là hội chơi bài chòi: trò đánh bài trong những chiếc chòi tre dựng lên dịp Tết Nguyên đán. Hai là biểu diễn bài chòi: các nghệ nhân Hiệu, cả nam lẫn nữ, hát trên một chiếc chiếu mây, đi từ nơi này sang nơi khác hoặc hát riêng cho gia đình mời.

Ngày 7/12/2017, tại phiên họp thứ 12 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 ở Jeju, Hàn Quốc, UNESCO ghi danh Nghệ thuật Bài chòi Trung bộ Việt Nam vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Di sản này không thuộc riêng một làng hay một tỉnh. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch của chín tỉnh cùng cộng đồng có trách nhiệm cập nhật thông tin về nó mỗi năm. Hội An, nay thuộc thành phố Đà Nẵng, là một nơi giữ cho nghệ thuật ấy còn sống.

Trang này đi từ gốc đến ngọn: bài chòi từ đâu ra, chòi dựng thế nào, một câu hô thai gồm những gì, và buổi tối nghe bài chòi ở phố cổ Hội An.

Một cái tên, hai cách chơi

Người miền Trung nói “chơi bài chòi” hay “đánh bài chòi” khi nói về trò chơi, và nói “hô bài chòi” hay “hát bài chòi” khi nói về nghệ thuật đóng vai và diễn xướng. Hai việc ấy gắn với nhau nhưng không phải một.

Nội dung của những câu hô và bài hát cũng không chỉ để vui. Hồ sơ UNESCO ghi nhận các câu chuyện bài chòi có những bài học về đạo đức, lòng trắc ẩn và tình yêu làng quê.

Nguồn gốc: hai cách kể

Chưa có nghiên cứu nào xét kỹ lịch sử và sự ra đời của bài chòi. Vì vậy có hai cách kể chung sống với nhau.

Chuyện chòi ngoài rẫy. Các tài liệu lịch sử gọi danh thần Đào Duy Từ (1572-1634) là ông Tổ của bài chòi. Nguồn gốc trò chơi gắn với thời ông vào đất Hoài Nhơn, Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai) khai hoang. Để xua thú rừng phá cây trồng, các chủ rẫy dựng những chiếc chòi cao khoảng 3 mét. Giữa núi rừng cô đơn, họ nối dây ống tre giữa các chòi để nói chuyện, hô hát đối đáp và chơi bài. Trò đánh bài đuổi thú ấy dần thành trò chơi dân gian vừa đánh bài vừa hô hát, truyền qua nhiều thế hệ.

Dấu vết trong bộ bài. Phần lớn các tác giả cho rằng bài chòi ra đời từ thế kỷ 15. Ý này dựa trên nhà nghiên cứu âm nhạc người Pháp G.L. Bovier, người đoán bài chòi hình thành cùng cuộc di cư của người Việt vào phương Nam năm 1470. Người viết bài nghiên cứu của Viện Âm nhạc đặt hai bộ bài cạnh nhau: bài chòi có cùng các bộ bài và quân bài với tổ tôm điếm. Người chơi tổ tôm điếm phải dựng điếm, người chơi bài chòi phải dựng chòi. Từ sự giống nhau ấy ông kết luận bài chòi sinh ra từ cuộc di cư của người Việt từ vùng Bắc Trung bộ (Thanh Hóa, Nghệ An) vào Nam Trung bộ ở thế kỷ 15.

Các nhà nghiên cứu văn hóa miền Trung đều cho rằng bài chòi là loại hình giải trí do người Việt sáng tạo.

Dựng chòi, mở hội

Hội bài chòi diễn ra dịp Tết, trên một khoảng đất rộng đủ chỗ dựng 9 hoặc 11 chòi và đủ chỗ cho mọi người vào chơi. Dân làng bắt đầu dựng chòi vài ngày sau khi đưa ông Táo về trời. Vật liệu chủ yếu là tre, tranh hoặc lá dừa. Mỗi chòi có bốn chân, cao hơn 2 mét.

Những chòi lợp tranh dựng trên khung tre với ô nhỏ màu đỏ, mọi người đứng quanh một chiếc bàn phủ khăn hoa trên nền đất nắng.
Chòi lợp tranh dựng cho một hội bài chòi, phía trước là bàn của người dẫn trò. Ảnh Lưu Ly, CC BY 3.0.

Các chòi xếp hình chữ U: một chòi cái và 8 hoặc 10 chòi con. Chòi cái dành cho người bán bài, các chòi còn lại dành cho người mua bài. Giữa sân đặt thêm một bộ bài thứ hai, gọi là bài nọc. Cả hội chỉ kéo dài từ 3 đến 4 ngày.

Bộ bài ba mươi ba con

Một bộ bài chòi chỉ có 33 con, trong khi bộ tổ tôm điếm có 120 con. Hình vẽ trên bài đổi thì tên quân bài cũng đổi theo. Ở tổ tôm, bộ sách có những quân như Nhất sách, Nhị sách, Cửu sách. Ở bài chòi, bộ sách mang những cái tên rất đời: Tử Cẳng, Nhứt Nọc, Nhì Nghèo, Ba Gà, Tứ Xách, Ngũ Dụm, Lục Hột, Bảy Thưa, Tám Dừng và Cửu Điều.

Hô thai: câu hát đố người chơi

Điều làm bài chòi khác mọi trò đánh bài khác là cách đọc con bài. Người dẫn trò rút một lá bài nhưng không xướng tên ngay mà cất giọng hô, dùng câu thơ lục bát dí dỏm, ẩn dụ để đố người chơi. Việc kéo dài hồi hộp ấy giống như mua vé số rồi đứng chờ kết quả, và có lẽ vì vậy người ta gọi là hô thai.

Một câu hô thai gồm ba vế và kết thúc bằng việc gọi tên con bài. Phần lời là một câu thơ sáu tám hoặc một biến thể của nó. Luật của nghề là chữ cuối của câu thơ tám chữ phải chính là tên con bài.

Một câu hô thai mẫu: “Tay bưng đĩa muối, nắm dầm / Vừa đi vừa chấm té ầm xuống mương”, rồi kết bằng “Ông ầm huớ Ông ầm”. Người chơi nghe tiếng “ầm” ở cuối câu thơ và biết con bài đang được đố là Ông Ầm.

Trò chơi này không dính đến cờ bạc sát phạt. Người thắng cuộc chỉ nhận phần thưởng nhỏ mang tính tượng trưng, kèm lời chúc tụng trang trọng và chén rượu xuân từ người dẫn trò.

Anh Hiệu, chị Hiệu

Người dẫn trò gọi là anh Hiệu, và là nghệ nhân duy nhất tạo nên không khí nghệ thuật của hội chơi: anh hát, soạn lời, làm động tác minh họa lời hát và gõ phách. Hồ sơ UNESCO ghi nhận cả nghệ nhân Hiệu nam và nữ. Cùng với họ, những nghệ nhân solo, người làm bài và người dựng chòi là những người giữ nghề.

Nghề này truyền chủ yếu trong gia đình và bằng miệng, ngoài ra còn qua câu lạc bộ, trường học và hội đoàn. Cộng đồng đã lập gần 90 đội, nhóm và câu lạc bộ bài chòi để thực hành và truyền dạy.

Từ chòi ra chiếu, từ chiếu lên sân khấu

Hội chơi bài chòi xong, nhiều anh Hiệu được dân làng mời đến hát ở nhà riêng, ba bốn ngày sau. Đó là khởi đầu của bài chòi trải chiếu. Mỗi nhóm hát rong thường có từ 3 đến 4 người, ai cũng biết chơi nhạc cụ, đánh trống và hát. Để người nghe không chán, nghệ nhân biến câu hô đơn giản thành bài hát kể chuyện, mỗi bài từ 20 đến cả trăm câu. Từ các điệu hô thai, nghệ nhân phát triển thêm sáu điệu hát khác.

Đồ nghề của anh Hiệu khi trải chiếu là quần áo thường ngày, nón lá, khăn, cây đàn nhị, sênh tre, chiếc trống chiêng và tài ứng tác.

Từ chiếu, bài chòi lên sân khấu. Giữa năm 1933, hai nghệ nhân Bốn Trang và Ba Nhỏ đưa bài chòi lên sân khấu sàn gỗ ở chợ An Lương, Phù Mỹ, Bình Định, nay là tỉnh Gia Lai. Gánh hát Tân Xuân (1934) mở ra thời kỳ hoàng kim với hơn 10 gánh hát bài chòi nổi tiếng. Các nghệ sĩ sau đó nâng bài chòi từ làn điệu dân ca thành dân ca kịch bài chòi. Bài nghiên cứu của Viện Âm nhạc nhìn nghệ thuật trải chiếu này là gốc của kịch bài chòi Nam Trung bộ nửa sau thế kỷ 20.

Ở Quảng Nam, sau năm 1975, Đoàn ca kịch Quảng Nam-Đà Nẵng (nay là Đoàn ca kịch dân gian Quảng Nam) ra đời và khơi dậy phong trào nghe, và viết lời mới cho các điệu bài chòi.

Bài chòi ở Hội An

Người Hội An quen bài chòi như một trò chơi dân gian đánh dịp Tết mùa xuân. Trước nửa đầu thế kỷ 20, các cụ lớn tuổi tự dựng chòi và điều khiển cuộc chơi cho dân làng. Rồi trò chơi tưởng như mai một trong phố. Tháng 9/1998 thành phố đưa bài chòi vào chương trình Đêm phố cổ, và từ đó trò chơi được hồi sinh ở nội thị, mỗi tối đều có.

Buổi biểu diễn buổi tối dưới mái tranh treo những tấm bảng vẽ hình thẻ bài và đèn lồng, hai nghệ nhân mặc trang phục truyền thống vừa hát vừa múa, khán giả ngồi bên phải.
Nghệ nhân hô hát bài chòi dưới đèn lồng và những lá bài khổng lồ. Ảnh Liftold, CC BY-SA 3.0.

Ngày nay bài chòi là tập quán lễ hội ở hầu hết các làng Hội An. Từ năm 2004, Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa Hội An phối hợp với ngành giáo dục đưa bài chòi vào học đường và mở lớp hát dân ca miễn phí trong chương trình “Phố đêm”. Nghệ thuật hô, hát bài chòi là môn học chính thức ở bậc trung học cơ sở. Một lớp dạy hô hát mở cửa cho trẻ em và du khách mỗi tối ở phố cổ.

Ngày 7/12/2025, Hội An tổ chức đêm giao lưu nhân dịp tám năm UNESCO ghi danh bài chòi.

Nghe bài chòi ở đâu, khi nào

Tại bùng binh An Hội, giữa khu phố cổ, mỗi buổi tối các nghệ nhân của Trung tâm Bảo tồn Di sản Hội An trình diễn hô hát bài chòi phục vụ du khách đến phố đêm Hội An. Bùng binh An Hội thuộc phường Hội An, thành phố Đà Nẵng. Lớp học dân ca miễn phí ở khu phố cổ cũng là điểm dừng chân của nhiều du khách, nơi cả người xem, người học, thầy và trò say sưa với điệu hô bài chòi, xàng xê, xuân nữ, hò Quảng, hò khoan.

Muốn thấy một hội chơi đúng nghĩa, hãy đi vào dịp Tết: hội bài chòi diễn ra dịp Tết Nguyên đán và chỉ kéo dài từ 3 đến 4 ngày.

Về phố cổ nơi các buổi hô hát diễn ra, đọc Phố cổ Hội An và Lịch sử Hội An. Về những tháp Chăm ở Quảng Nam, xem Thánh địa Mỹ Sơn.

Vì sao đáng giữ

Hồ sơ UNESCO ghi bài chòi được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong những năm 2013-2014. Lễ đón bằng công nhận ở Hội An diễn ra tối 7/5, do Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam và thành phố Hội An phối hợp tổ chức, và báo Sài Gòn Giải Phóng đăng ngày 8/5/2018.

Điều giữ bài chòi sống không phải bằng chứng nhận mà là người hát: những anh Hiệu, chị Hiệu, người làm bài, người dựng chòi, và những đứa trẻ đang học hô trong phố đêm.

Nguồn ảnh

Câu hỏi thường gặp

Bài chòi là gì?

Một nghệ thuật kết hợp âm nhạc, thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn chương. Nó có hai dạng: hội chơi bài trong chòi tre dịp Tết và biểu diễn của nghệ nhân Hiệu trên chiếu.

UNESCO công nhận bài chòi năm nào?

Ngày 7/12/2017, tại phiên họp thứ 12 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 ở Jeju, Hàn Quốc. Hồ sơ là của chín tỉnh Trung bộ.

Hô thai là gì?

Là cách người dẫn trò đọc con bài: không xướng tên ngay mà hát một câu thơ lục bát đố người chơi. Một câu hô thai gồm ba vế và kết bằng tên con bài.

Một bộ bài chòi có bao nhiêu con?

Ba mươi ba con, ít hơn nhiều so với bộ tổ tôm điếm có 120 con.

Bài chòi chơi vào dịp nào?

Dịp Tết Nguyên đán. Một hội chơi chỉ kéo dài từ 3 đến 4 ngày.

Chơi bài chòi có phải đánh bạc không?

Không. Người thắng chỉ nhận phần thưởng nhỏ mang tính tượng trưng, kèm lời chúc và chén rượu xuân từ người dẫn trò.

Nghe bài chòi ở Hội An ở đâu?

Tại bùng binh An Hội trong khu phố cổ, mỗi buổi tối nghệ nhân của Trung tâm Bảo tồn Di sản Hội An trình diễn phục vụ du khách.

Bài chòi có từ bao giờ?

Chưa có nghiên cứu nào xét kỹ lịch sử bài chòi. Phần lớn tác giả cho rằng nó ra đời từ thế kỷ 15; một cách kể khác gắn nó với danh thần Đào Duy Từ (1572-1634).

Đọc tiếp

Thông tin tổng hợp, đối chiếu với các nguồn nêu trên; không phải tư vấn pháp lý cho trường hợp riêng của bạn. Giá vé, giờ mở cửa và quy định có thể thay đổi, nên hỏi lại nơi liên quan trước khi đi. Xem cách chúng tôi kiểm chứng (tiếng Anh).

Thấy chỗ sai? Báo cho biên tập.