Vấn đề Giáo Dục tại Đức
Nguyễn Qúy Ðại

Những điểm chính trong Hệ Thống Giáo Dục Đức
Viện nghiên cứu PISA-Studie “ Programme for Internationnal Student Assessmet / Programm fuer Internationale Schueler Bewertung“ làm việc giống như viện nghiên cứu OECD (Organisation fuer wirtschaftliche Zusammenarbeit und Entwicklung) tham khảo về hệ thống Giáo Dục Đức so sánh với 32 Quốc gia trên thế giới. Phê bình hệ thống Giáo dục Đức tồi tệ “Miserable/lousy“. Gây nhiều bàn cãi sôi nổi về việc cải tổ giáo dục cần phải mở rộng Đại học đào tạo nhiều nhân tài đáp ứng nhu cầu xã hội.
Cộng Hoà Liên Bang Đức có 100 trường Đại học (university) và Đại học kỷ thuật (technical university) và 141 trường Đại học chuyên nghiệp (Fachochschule / higher education institution) 46 trường Đại học nghệ thuật (Kunsthochschulen / college of art), 7 trường Đại học tổng hợp (Gesamthochschulen / polytechnic) ngoài ra còn hai trường Đại học quân sự tại Muenchen và Hamburg. Trên 100 ngàn Sinh viên và hơn 10,800 Giáo Sư (Professoren) (1)
Chương trình Giáo dục phổ thông
Hai năm đầu tiểu học (lớp một và hai) không ghi điểm, đánh giá bài làm qua các ngôi sao ** hay hình tượng trưng cho khuôn mặt vui, buồn, Nhiều trường trong các tiểu bang vào năm lớp 2 học thêm giờ sinh ngữ Anh hay Pháp văn.
Điểm tính từ lớp 3, nửa niên khóa đầu của lớp 4, được cấp chứng chỉ xếp hạng gọi là (Ubertrittszeugniss / defection certificare). Để Phụ huynh chọn lựa ghi danh cho con theo các trường trung học khác nhau. Tùy theo kết của điểm ghi trong chứng chỉ. Điểm 2,5 được ghi danh theo học Gymnasium, từ 2,66 Realschule 3,5 Hauptschule số điểm từ 3 đến 3.5 có thể ghi vào trường Gesamtschule.
Trường Gymnasium / Grammar school *
Thời gian học 13 năm, học sinh từ lớp 4 đạt số điểm 2,5 ghi danh trực tiếp vào trường Gymnasium. Lớp 5 đến lớp 10 (đệ nhất cấp) từ 11 đến 13 (nhị cấp) hay gọi là Kollegstufe.
Từ lớp 5 học sinh ngữ một, (học sinh có thể chọn Anh hoặc Pháp văn làm sinh ngữ chính). Từ lớp 7 học thêm sinh ngữ hai, Anh, Pháp văn, La Tinh, tùy ý học sinh chọn lựa
Chương trình học nặng phần lý thuyết hơn thực hành, các môn học như : khoa học tự nhiên, lịch sử, địa lý, sinh vật, hóa học, vật lý, kinh tế chính trị, nhạc nghệ thuật, văn chương Đức, giáo lý. Được chia ra các ban: khoa học tự nhiên, toán lý hóa, kinh tế sinh ngữ. Tất cả các môn học phải đạt điểm như quy định, học sinh phải học đều tất cả các môn dù 2 môn phụ điểm 5 cũng bị ở lại lớp.
* (is a secondary school which pupils attend for nine years and which leads to ABITUR “ the A. level” The final two year at a Gymnasium are known as the Kollegstufe.)
Realschule và Fachoberschule / German Secondary school (*)
Thời gian học 12 năm từ lớp 5 đến lớp 10 (nhất cấp) lớp 11 đến lớp12 (nhị cấp). Chương trình học có phần lý thuyết, thực hành, như nấu ăn, đánh máy.. học một sinh ngữ, các môn học cũng giống trường Gymnasium, tuy nhiên chương trình nhẹ hơn có tiêu chuẩn điểm riêng. Sau lớp 10 chuyển sang trường fachoberschule học 2 năm thi lấy bằng tú tài.
Nói chung các học sinh học hai trường Gymnasium/ Realschule xong lớp 10 thi lấy bằng trung học đệ nhất cấp. Nếu muốn học nghề các ngành như : ngân hàng, bảo hiểm.v.v…Tốt nghiệp tú tài hệ 12 năm học sinh ghi danh vào trường Fachhochschule (đại học chuyên nghiệp) học trình 4 năm ra trường Kỷ sư chuyên về thực dụng. Nếu muốn ghi danh vào trường Đại học kỷ thuật (technical university) phải qua kỳ thi. * (Is a type of German secondary school.)
Hauptschule/ Junior high school. (*)
Trung học hệ 5 năm, trường nầy dành cho các học sinh không đủ điểm ghi danh tai 2 trường trên. 70 % học sinh người ngoại quốc, phụ huynh là khách thợ ít chú ý đến con cái, hoặc muốn con sớm đi học nghề, để đỡ gánh nặng gia đình ? Tuy nhiên nếu học sinh lớp 5 Hauptschule đạt được số điểm cao (có thể ghi tên vào trường Gymnasium hay Real- nhưng phải học lại lớp 5)
Chương trình nặng về thực hành hướng nghiệp, học một sinh ngữ, đến lớp 9 qua kỳ thi tốt nghiệp, trung học đệ nhất cấp, từ đó học sinh đi học các nghề như thợ điện, mộc, bán thịt heo..nếu học sinh có số điểm cao muốn tiếp tục học, thi tú tài và vào Đại học, mất thời gian dài hơn.
* (Hauptschule caters for the last five years of the compulsory nine years at school in Germany. In Austria a Hauptschule covers school years five to eight and also offers opportunities for young people who wish to go on to higher education. In Switerzland compulsory schooling is coverd by a Volksshule)
Gesamtschule/ comperhensive school
Trường tổng hợp cả 3 loại trường trên, để nâng đỡ các học sinh không đủ tiêu chuẩn vào Gymnasium và Real, nhưng không muốn vào trường Hauptschule, theo học trường nầy nếu đạt điểm tốt có thể theo học các trường cao hơn như mong muốn. Mỗi lớp tối đa khoảng 28 và ít nhất 14 học sinh. Tuỳ theo từng Tiểu bang, Các sách Giáo khoa cũ ít nhất 10 năm chưa cập nhật hóa theo chương trình về lịch sử và tiền tệ (2)
Ngoài ra còn có trường dành cho các học sinh bị khuyết tật bẩm sinh, là nguồn an ủi cho những người bất hạnh, họ được ưu tiên tìm việc làm theo khả năng được đào tạo tại trường, hưởng nhiều đặc ân xã hội.
Học sinh xong tú tài (Abitur) luôn có nhiều cơ hội tiến thân, nếu đạt điểm cao được học bổng, Hảng Siemens nhận sinh viên cấp tiền học cho các niên học theo các hệ Bachelor hay Đại học chuyên nghiệp các nơi như : Berlin, Nuernberg, Paderbon. ngoài thời gian học tại các trường và thực tập tại hảng ra trường làm việc cho Siemens.
Đại học university / Đại học kỷ thuật technical university
Sinh viên thường ghi danh vào cá nguyệt mùa Đông, tùy thuộc điểm bằng tú tài, ghi danh theo ưu tiên tại các trường Đại học chọn lựa. (Thí dụ tại Munich nhận ưu tiên điểm cao vào các phân khoa tự do hay thi tuyển, không đạt điểm như qui định phải chọn trường xa hơn)
Học sinh tốt nghiệp tú tài hệ 13 năm ghi danh Đại học, tùy mỗi ngành phải thi tuyển hay chờ đợi. Chương trình học chuyên về lý thuyết dài 4 năm rưởi, (9 Semester) cần thêm thời gian trường gởi sinh viên vào các hảng xưởng thực tập. Các ngành kỷ thuật phải làm các luận án cử nhân (Diplomsarbeit / do ones diploma), tuy nhiên nhiều sinh viên không thể xong học trình như ấn định, thường kéo dài học trình trung bình 12, 13 Semester. (3)
Ngành luật ra trường không cần làm luận án, nhưng phải trãi qua thi viết và vấn đáp về hình luật, dân luật.. và cần thời gian thực tập. Xong cử nhân muốn làm luận án tiến sĩ phải mất hơn 3 năm, tuy nhiên có trường hợp vừa đi làm vừa làm luận án tiến sĩ nếu được một Giáo sư Đại học đỡ đầu. Ngành Y Khoa học trình dài 7 năm (cả thực tập) tốt nghiệp xong, phải làm luận án riêng để có danh hiệu tiến sĩ Y khoa. Muốn học chuyên môn, giải phẩu.. tiếp tục thêm.
Hiện nay Đại học, kỷ thuật và chuyên nghiệp có hệ Cao học (Master, Magister) Bachelor, chương trình luôn được thay đổi theo nhu cầu phát triển.
Fachhochschule / higher education institution. (*)
Trường Đại học (cao đẳng)* chuyên nghiệp nặng thực hành, chương trình kéo 8 Semester, (gồm 6 lục cá nguyệt lý thuyết và 2 lục cá nguyệt thực hành). Không tính thời gian (Diplomarbeit ) Trường được thiết lập đầy đủ dụng cụ máy móc áp dụng thực tập tại chổ. Sinh viên được chia từng toán để thực tập, bắt buộc tham dự giờ giảng dạy. Ra trường kỷ sư chuyên nghiệp, (Diplom FH ) trường nầy đào tạo hơn 50% về kỷ thuật ứng dụng, hơn 26% về xã hội, công chức 11 %.
Sinh viên theo học các trường trên không thể tự rút ngắn học trình, các giờ giảng dạy, thực tập chỉ được thực hiện một lần trong lục cá nguyệt, nếu thi rớt hay bị bệnh phải chờ đến lục cá nguyệt sau, sinh viên có thể lấy bài từ Internet, để làm bài tập
(tạm dịch ra là “Đại học chuyên nghiệp“ nếu dịch “ trường cao đẳng“ e không chỉnh bởi cao đẳng bên Việt Nam chỉ học 2 năm tức hệ Cán sự không thể gọi là kỷ sư được) * or FH for short, are higher education institutions which generally offer relatively focused and practical courses of study. they were set up principally to cover the areas of technology, natural sciences, and art….Austria and Switterland have similar systems)
Chương trình huấn nghiệp và tu nghiệp / for an occupation
Huấn nghiệp (Berufsausbildung / training) tốt nghiệp trung học, học sinh chọn học các nghề theo khả năng thích hợp, học trình kéo dài từ 2 đến 3 năm. Tất cả 400 ngành nghề khác nhau, ngoài số giờ học lý thuyết, học sinh cần phải thực tập tại các hảng xưởng, người thợ tốt nghiệp thường có kiến thức sâu rộng, trên hai phương diện lý thuyết và thực hành.Sau 3 năm học thi ra trường lấy bằng tốt nghiệp, đi làm thời gian có thể ghi tên học thêm vài ba năm lấy bằng thợ cả (Meister) hoặc làm đơn xin sở Lao động (Arbeitsamt) đổi nghề người nào siêng năng đi làm và học các trường ban đêm, để tiến thân..
Người Việt đến Đức định cư, nếu có bằng cấp phải dịch ra tiếng Đức và cả bản gốc gởi đến cơ quan chuyên môn để công nhận giá trị văn bằng. (Zeugnisanerkennungsstelle) Tùy theo tú tài các ban (A,B,C) tại Việt Nam để thẩm định có thể học ngành nào phù hợp với khả năng. Tú tài trước 1975 được công nhận tương đương với tú tài Pháp (Bakkalaureatzeugnis).
Tùy theo văn bằng các chứng chỉ Đại học, cử nhân, gởi cơ quan cộng nhận bổ túc cho bằng tú tài, được chia làm hai nhóm 1 và 2 (nhóm 1 vào năm đầu theo ngành qui định, nhóm 2 vào năm dự bị )
Trình độ tiếng Đức trung cấp, nhưng phải qua kỳ thi tiếng Đức để vào Đại học hay dự bị, đủ khả năng tiếng Đức có hai hướng chọn trường: Đại học, Đại học kỷ thuật hoặc trường Đại học chuyên nghiệp.
Tất cả văn bằng tốt nghiệp các trường Đại học tại Việt Nam, có thể theo học từ năm đầu, không cần học dự bị, (tuy nhiên tùy theo ngành, có tiểu bang công nhận vài môn đã học ).
Tốt nghiệp phổ thông sau năm 1975 tại Việt Nam, bằng nầy chỉ công nhận tương đương học trình lớp 10 hay 11 tại Đức, phải học ít nhất 3 năm thi lấy tú tài. Sau đó ghi danh vào Đại học kỷ thuật hay chuyên nghiệp.
Nhiều trường hợp đã tốt nghiệp và làm việc tại Việt Nam như: Bác sĩ giải phẩu nhiều kinh nghiệm trên chiến trường, chỉ công nhận làm phụ tá Bác sĩ với điều kiện thông hiểu Đức ngữ. !!
Tốt nghiệp Kỷ sư cơ khí Phú Thọ sau năm 1975 phải tiếp tục học lại Đại học lấy lại Cử nhân và Tiến sĩ mất 9 năm. (không tính thời gian học tiếng Đức). Nghề Linh Mục, Tu sĩ và Y tá học xong Đức ngữ thông thạo có thể tiếp tục làm việc.
Tuy nhiên các nước Á Châu sinh viên du học, tốt nghiệp về nước, có tiêu chuẩn dễ hơn, nhiều Đại học nhận sinh viên cho làm luận án tiến sỉ (Doctor/ Doctoral degree) cao học(Master / master degree). Luận án MA (Master) phải làm bằng tiếng Anh, mỗi trường dành cho sinh viên ngoại quốc có tỉ lệ %, trong mỗi học trình.
Người tị nạn may mắn tìm đến vùng đất tự do, làm lại cuộc sống từ số không và hội nhập vào xã hội mới. nhưng phải đánh đổi cả sinh mệnh và nghề nghiệp.., đời cha mẹ không tiếp tục hành nghề Kỷ sư, Bác sĩ, Luật sư… nhưng con cháu ảnh hưởng truyền thống gia đình, theo học các Đại học nổi tiếng, rất thành công tại Đức.
Mỗi quốc gia có sinh hoạt về Giáo dục và điều kiện khác nhau. Nước Đức văn minh cường quốc tại Âu Châu, nhưng phần lớn người lớn tuổi tị nạn, bị dậm chân tại chỗ dù có khả năng. Nếu so sánh tại Hoa Kỳ, Úc, Canada, Pháp..Những người tốt nghiệp Đại học Việt Nam có thể ghi danh học Cao học hay Tiến sĩ, Bác sĩ tu nghiệp thời gian ngắn hành nghề tiếp tục…
Người tị nạn trước đây gốc từ các quốc gia Đông Âu như : Ba Lan, Tiệp, Nga.. giống như người Việt, dù tốt nghiệp Đại học đến Đức đều không công nhận.
Nước Đức thống nhất về lãnh thổ, nhưng chương trình giáo dục chưa thống nhất, các tiểu bang như Thueringen và Sachsen trường Gymnasium học 12 năm. (gây dư luận sôi nổi ngày 26 /4/2002 tại trường trung học Gutenberg ố Gymnasium đang tổ chức kỳ thi tú tài. Học sinh Robert S. mang súng đến bắn chết 16 người trả thù, vì bị đuổi học trước kỳ thi. 12 năm học không có mảnh giấy trên tay, phải xuống thi lại năm cuối Hauptschule vì tự ái bồng bột không suy nghĩ đã gây ra án mạng khủng kiếp đó, lỗi đó do hệ thống giáo dục) Các kỳ thi tú tài học sinh được thi trong lớp, Giáo viên dạy trong niên học chấm bài thi viết và vấn đáp, (không thi theo lối trắc nghiệm a, b, c hay tổ chức các trung tâm và bài thi cắt phách như Việt Nam trước 1975)
Chiến tranh (1939-1945) sinh viên học các Đại học chỉ 3%. Niên khóa 2002 tổng số học sinh thi tú tài toàn quốc 213.754 người, 30 % theo học Đại học, ngoài ra chọn các ngành nghề khác.
Hamburg và Berlin không đủ tiêu chuẩn; riêng Bayern(Bavaria) có hệ thống Giáo dục tốt nhất, nếu so sánh với các tiểu bang khác. Các niên học từ lớp 1 đến 9 tại Bayern học hơn 1000 giờ gần một năm học. (4)
Bảng so sánh học sinh tốt nghiệp tại 3 tiểu bang các trường
Bayern Hamburg Nordheim Westfalen
Hauptschul 43,3 Hauptschul 25,3 Hauptschul 24,0
Realshule 38,3 Realshule 40,5 Realshule 48,9
Hochschulreife 28,7 Hochschulreife 49,6 Hochschulreife 44,0
Tỉ số thí sinh đậu tú tài Hamburg 49,6 Westfalen 44%, Sachsen-Anhalt 32%.. Bayern 28,7% So sánh với các trường trung học của15 tiểu bang khác, Bayern đứng thứ nhất. (5) với thế giới đứng hàng thứ 9.
Bayern chương trình học còn bảo thủ, gạn lọc học sinh ngay từ năm lớp 4. Bởi vậy số học sinh thường bị giới hạn vào Đại học hơn so với các tiểu bang khác. Bayern chỉ đạt 35% Oberschule/grammar school; 20% Hochschullreife/ academic standard required for university entrance (6)
Tương lai đi về đâu
Chương trình học tại Đức quá rộng không thống nhất, có nhiều khác biệt, muốn thống nhất trình độ. Nhiều chính trị gia dân biểu đòi hỏi thi tú tài phải cùng một đề thi của bộ Giáo Dục Liên Bang…
Nền Giáo dục bị ảnh hưởng nhiều vào đời sống phát triển về kinh tế, chính trị của từng tiểu bang. Hệ thống Giáo dục khó khăn của những thập niên về trước không được cải tổ, gạn lọc học sinh qua các niên học. Nếu so sanh với Schweden (Thụy Điển) 2 học sinh có một người theo Đại học, trong lúc đó tại Đức 30 học sinh có một người vào Đại học.
Vấn đề đặt ra nên thay đổi hệ thống Giáo dục, mở rộng cửa Đại học, đào tạo nhiều Kỷ sư, Chuyên viên, đáp ứng nhu cầu tiến bộ và phát triển trên mọi lãnh vực. Học sinh lúc nhỏ chưa phát triển về trí tuệ, nhưng lúc trưởng thành hay vào Đại học phát triển trên lãnh vực khác. Nếu chú trọng vào các ngành nghề về tay chân, tránh được tỉ lệ thất nghiệp nhưng thiếu thành phần trí thức.
Đại học Đức đào tạo Kỷ sư ra trường có chất lượng cao, không phải người nào tốt nghiệp đều là “thượng thặng“, lệ thuộc vào số lượng ra trường không thể đáp ứng được nhu cầu phát triển về khoa học, trở nên thiếu chuyên viên kỷ thuật ngành Điện toán, nên thời gian qua thâu nhận 6000 chuyên viên ưu tú các nước như Ấn Độ vào Đức làm việc theo chương trình “Green Card “. Người Đức luôn tự hào về truyền thống đân tộc của họ, nhưng phải lấy người “Trí thức“ các nước vào làm việc ? Trong lúc thế hệ trẻ vô tình bị giới hạn trên đường vào Đại học, nếu đào tạo hàng ngàn Kỷ sư ra trường, ai giỏi thì làm việc giỏi sẽ không thiếu người làm việc trong các lãnh vực khác.
Các quốc gia trên thế giới theo hệ tú tài 12 năm, nhưng quốc gia họ phát triển tiến bộ, sinh viên tốt nghiệp Đại học khoảng 22 tuổi. Sinh viên Đức ra trường thường sau 25 tuổi Học trình đôi khi kéo dài hơn 13 Semester !! Tuỳ theo mỗi Đại học có những số môn đòi hỏi đào tạo khác nhau. Tuần Báo Time so sánh Đại học Munich trình độ như Standfort university và Harvard university (7). Đại học Hoa Kỳ phải đóng học phí, phần lớn sinh viên Việt Nam đều thành công, ra trường đi làm giử chức vụ cao tại các cơ quan vv. Đại học Đức đều miễn phí nhưng ra trường rất khó, chỉ được phép thi 2 lần, nếu không đậu phải đổi ngành khác. Sinh viên nghèo được mượn tiền Bafoeg/ Bundesausbildungsfoederungsgesetz (nếu cha mẹ lương thấp..) ra trường đi làm sau 5 năm trả góp không lời, Đại học tư thục học phí rất cao.
Các chức vụ chỉ huy dành cho người bản xứ ! Tuy nhiên có ít người Việt Nam là Giáo sư tại các Đại học, làm các việc quan trọng trong các ngành kỷ thuật và nghiên cứu.
Chương trình Giáo dục Đức phức tạp tốn kém, học lái xe phải vào trường học lý thuyết, thực hành, với một số giờ bắt buộc, thi bị rớt 2 lần đến lần thứ 3 không đậu, bị đưa vào bệnh viện khám đầu có bình thường không ? học nghề uốn tóc làm móng tay tại Hoa kỳ thời gian ngắn từ 6 tháng đến 1 năm. Tại Đức phải học 3 năm ? tất cả các ngành nghề thời gian học quá dài. Thí dụ Sinh viên ngành điện thi không ra trường ! công trình học như “dã tràng xây cát biển đông “. Không có hảng nào nhận làm nhân viên chuyên môn, Phải đi làm “thợ vịn“, một thời gian đổi nghề (xin học nghề nào đó được sở Lao động trả tiền ) để có bằng chuyên môn.
Kỷ sư ra trường thời gian dài không tìm được việc thất nghiệp, cái bằng lâu ngày không ứng dụng, không được chú ý đến, phải đổi nghề khác…vv.
Bài tham khảo giới hạn nầy, không tránh những thiếu sót, chương trình Giáo Dục rộng hơn 1300 Fachbereiche/ faculty của các Đại Học tại Cộng Hòa Liên Bang Đức nhiều danh từ không tương đương Việt ngữ, để nguyên chữ gốc và thêm phần Anh ngữ đối chiếu
Stern số 16/2002 Deutschlandsbeste Unis trang 56-60
Der Spielgel số 23/2002
Focus số 24/2002 serie Hochschufuehrer)
Focus số 25/2002 và; Stern số 4/2002
Focus số 26/2002
Der Spielgel số 27/ 2002
Time số/2002
Tài 1iệu tham khảo
Eltern for family Schul-Guide
Tips zur Studien- und Berufswahl
Superillu số 23