Tôi đọc bài thơ Nỗi
Lòng Tô Vũ của Bùi Giáng lần đầu tiên vào thập niên
50, trên tờ Phổ Thông do ông Vũ Quốc Thúc chủ trương,
xuất bản tại Hà Nội trước cuộc di cư năm 1954.
Tuổi học sinh, đọc là tôi mê bài ấy ngay, nỗi mê
gần giống như khi đọc Les Étoiles của Alphonse Daudet, có
lẽ với nhiều cảm động hơn. Một bên là chàng chăn dê
giữa rừng núi với tình yêu bầy dê của mình, một bên
là chàng chăn cừu với mối tình chớm nở với cô con gái
ông chủ. Tuổi thanh thiếu niên dễ "bắt"
những rung động ấy lắm. Và tôi không ngờ "mối tình"
của tôi với Nỗi Lòng Tô Vũ của Bùi Giáng lại dai
dẳng đến thế, sau này tôi đã đọc nhiều thơ, văn
của anh, đã quen biết anh, nhưng hình ảnh chàng chăn dê
trên núi trong một buổi chiều "ước thệ" với
những vòng đeo cổ dê và cổ chính mình vẫn ở mãi
trong lòng tôi như một vùng trong sáng thuộc vào tuổi
trẻ. Tuổi trẻ của tác giả, và sau đấy, của tôi
Chúng ta hãy cùng đọc
lại bài thơ:
NỖI LÒNG TÔ VŨ
(Kỷ niệm một đoạn
đời 15 năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt Nam Ngãi Bình
Phú )
Đồi tăm tắp chạy
về ôm chân núi
San sát đồi phủ
phục quấn núi xanh
Chiều xuống rồi tơ lòng
rộn ràng rối
Trời núi đồi ngây
ngất nhảy dê nhanh
*
Thôi từ nay tha hồ em
mặc sức
Nhảy múa tung sườn núi
vút giòng khe
Thôi từ nay tha hồ em
mặc sức
Vang vang lên đồi núi
giọng be be
*
Những bận nào Trà
Linh qua Đá Dừng Hòn Dựng
Dùi Chiêng về Phường
Rạnh ngược Khe Rinh
Bao lần anh cùng chúng
em lận đận
Bôn ba qua rú rậm
luống rùng mình
*
Những bận nào Quế Sơn
Rù Rì con suối ngược
Nước trôi nguồn nước
lũ xuống phăng phăng
Những bận nào mịt mùng
mưa gió ướt
Đẫm thân mình co rúm
lạnh như băng
*
Em nhớ hay không? hồn
hoa dại cỏ
Những ngậm ngùi đầu
núi canh khuya
Vàng cao gót nai đầu
truông hãi sợ
Gió cây rung trút lá
mộng tan lìa
*
Nhưng từ nay Giáp Nam
anh đóng trại
Cố định rồi - em
khỏi ngại ngày đêm
Dưới nắng mưa tha phương
du mục mãi
Cay đắng từng, bùi
ngọt mặn mà thêm
*
Chiều hôm nay bên chó
vàng chễm chện
Anh lặng nghe em bé hé
bên sườn đồi
Khoanh mấy vòng tay anh
thoăn thoắt bện
Vòng cho em từng chiếc
sắp xong rồi
*
Chiều đã xuống em đà
no nê chắc
Huýt tù và! em xúm xít
lại anh đeo cho
Mỗi chúng em mỗi vòng
mây mỗi sắc
Lại mau đây! to nhỏ
cổ anh so
*
Này em Đen chiếc vòng
vàng tươi lắm
Này em Vàng chiếc
trắng há mờ đâu
Này em Trắng chiếc
hồng càng lóng lánh
Này em Hoa Cà * hỡi!
chiếc nâu
*
Ngẩng đầu lên! dê ơi
anh thong thả
Đeo vòng vào em nghển
cổ cong xinh
Ngẩng đầu lên! đây
lòng anh vàng đá
Gửi gắm vào vòng mây
nhuộm tơ duyên
*
Ngẩng đầu lên nhìn
anh mờ mắt lệ
Từ lần đầu vòng
ngọc tuổi hai mươi
Trao người em trăm năm
lời ước thệ
Đây lần đầu cảm động
nhất mà thôi **
*
Vòng em xong, vòng anh dành
riêng chiếc
Dành riêng mình - dê
hỡi hiểu vì sao
Vì lòng anh luống âm
thầm tha thiết
Gán đời mình trọn
kiếp với Dê Sao
*
Nhìn anh đây các em Vàng
Đen Trắng
Tía Hoa Cà lổ đổ
thấu lòng chưả
Từ từ đưa chiếc vòng
lên thủng thẳng
Anh từ từ đưa xuống
cổ đong đưa
*
Và giờ đây một lời
thề đã thốt
Nghìn thu sau đồi núi
chứng cho ta
Cao lời ca bê hê em cùng
thốt
Hòa cùng lời anh
nghẹn nỗi thiết tha
*
Và giờ đây hoàng hôn
mờ chĩu nặng
Bốn bề tràn lan bóng
mịt mùng sa
Xếp hàng ngay nhanh lên
hàng ngũ thẳng
Rập ràng về bế hế
rập ràng ca
* Dê Hoa Cà có lông
lổ đổ tía hồng xem như hoa cà vậỵ Đẹp vô cùng.
Nhất là những buổi chiều, sắc lông óng ả dưới
nắng vàng - xa xa hình bóng dê rực rỡ nổi bật trên
triền núi xanh lợ Dê Hoa Cà còn gọi là Dê Sao (vì lông
lổ đổ sáng như sao).
** Ý nói cái lần đầu,
thuở hai mươi tuổi, trao cái vòng ngọc cho vị hôn thê
mà không cảm động bằng lần đầu đeo vòng cho dê
vậỵ
Một bài thơ cảm động
mô tả việc chăn dê ở vùng đồi núi Quảng Nam và tình
yêu bầy dê của tác giả, với các hình ảnh vô cùng nên
thợ Nhưng câu đề từ ở đầu bài: Kỷ niệm một đoạn
đời 15 năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt - Nam Ngãi Bình
Phú gây thắc mắc cho nhiều người, trong đó có tôi.
Trong những dịp gặp Bùi Giáng trước năm 1975 và gần
đây, đầu thập niên 90, tôi đều quên nhờ anh giải thích
những điều rõ ràng là nói quá lên: về thời gian, không
làm gì có chuyện Bùi Giáng đi chăn dê trong 15 năm, về
không gian thì cả vùng núi đồi Nam Ngãi Bình Phú là quá
lớn đối với địa bàn chăn dê thật của nhà thi sĩ.
Bây giờ tôi đành tìm cách giải thích câu ấy một mình
vậỵ
Công việc chăn dê
của Bùi Giáng chỉ có vào một thời gian ngắn tại núi
đồi huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam, trong khoảng từ
1945 đến 1952 là năm anh "nhảy đồn" để về
thành phố. Câu đề từ trên về thời gian và không gian
đều được nới dài và rộng ra, để nhằm gợi một cái
gì đấy nhiều hơn là để tường trình một giai đoạn
của đời tác giả. "Mười lăm năm" có lẽ được
mượn từ đoạn đời trôi nổi của nàng Kiều, một
khoảng thời gian trở thành chuẩn mực để chỉ nỗi
trắc trở lênh đênh; trong giới văn học, "mười lăm
năm lưu lạc" gần như thành một thành ngữ. Và
miền núi đồi bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,
Phú Yên gợi nên cái không gian Liên khu Năm trong thời kháng
chiến chống Pháp mà Bùi Giáng đã đi lại nhiều lần.
Thời gian ấy, không gian ấy sẽ hỗ trợ cho không khí và
nỗi lòng của chàng Tô Vũ mới, và làm cho mối tình
của chàng với bầy dê thấm đượm một màu sắc riêng.
Mười lăm năm nói lên một nỗi truân chuyên, mượn số
năm lưu lạc của nàng Kiều để chỉ một thời gian
ngắn hơn nhiều của đời mình, Bùi Giáng có lẽ đã có
tiên cảm về nỗi bất trắc lớn lao của dân tộc trong
vòng vây không thoát được của chủ nghĩa cộng sản. Và
núi rừng Nam Ngãi Bình Phú là một không gian đặc biệt
của thời ấy, lúc phá hết phố phường biệt ly đời
gấm hoa, đời sống cả một vùng giai đoạn đầu kháng
chiến nhuốm đầy vẻ tươi sáng hào hùng dù rất kham
khổ thô sơ, nhưng từ đầu thập niên 50 bắt đầu
xuất hiện các vệt đen của đấu tranh giai cấp và
việc ép buộc đổ vào một khuôn tất cả mọi sinh
hoạt tinh thần, tư tưởng -- cái khuôn mác xít.
Nỗi lòng Tô Vũ là
nỗi lòng của kẻ lưu đàỵ Tô Vũ là một nhân vật bên
Tàu thời Hán Vũ Đế, khi đi sứ sang Hung Nô đã bị nước
này giữ lại, bắt đi chăn dê trong 19 năm, gọi là Tô Vũ
Mục Dương. Bùi Giáng học ở kinh đô Huế, năm 1945 ở
vào tuổi 19, đầu óc đang trong cơn khao khát rộng mở
đến bao chân trời kiến thức, thì vì thời cuộc phải
ngưng học đột ngột, về sống với xóm làng rừng núi
quê nhà. Nhưng điều quan trọng là khi cuộc kháng chiến
bùng nổ, vùng Nam Ngãi Bình Phú thành biệt lập với
thế giới bên ngoàị Một đời sống hoàn toàn tự
cấp tự túc, kể cả và nhất là về học thuật, văn hóa,
tư tưởng. Thời ấy nền giáo dục của cả Khu Năm
chỉ đến hết bậc trung học, muốn học đại học
phải ra đến Khu Bốn mới có. Năm 1950 Bùi Giáng thử
thời vận một lần với việc học vấn, lên đường đi
dọc theo dãy Trường Sơn ra đến Hà Tĩnh để theo học
đại học tại đấỵ Nhưng ngay trong buổi khai giảng,
sau khi nghe diễn văn của ông Viện trưởng thì Bùi Giáng
quyết định bỏ về không học nữạ Bài diễn văn ấy
có lẽ đã bắt đầu có dấu hiệu của sự nô dịch dân
tộc bằng hệ ý thức mác xít. Bùi Giáng thất vọng. Các
dự cảm đang biến thành sự thật. Sau đó ông chỉ còn
một con đường là tự biến mình thành Tô Vũ. Đó là
sự tự lưu đày trên quê hương, với ý thức rất rõ
rằng tư tưởng của mình, đời sống trí tuệ của mình
đang bắt đầu bị vây khổn. Cuộc đời chăn dê và hình
ảnh bầy dê chỉ là lối thoát mặt nổi của riêng
một người, trong một thời mà bao nhiêu dáng vẻ phong
phú bay bổng của tinh thần đang dần dần phải đưa
hết vào trong một cái rọ.
Rõ ràng "đoạn đời
15 năm" và "núi đồi Trung Việt Nam Ngãi Bình Phú"
là lối nói thậm xưng để thành một loại mật ngôn,
nhằm chuyển tải một tâm sự. Ngay cả việc chăn dê cũng
chỉ là một cái cớ. Thời gian, không gian, công việc
ấy chỉ là các khái niệm tượng trưng, nhờ đó gợi lên
những tình ý mông lung hơn về một thời điểm, một nơi
chốn và một tình trạng. Nội dung bài thơ chỉ thuần túy
nói về việc chăn dê và cái tình của tác giả đối
với bầy dê, với hình ảnh, ý tứ và ngôn từ đẹp, nên
thơ, độc đáọ Duy chỉ tựa đề bài thơ và nhất là
câu đề từ hơi lạ, khiến người đọc suy nghĩ, và tìm
cách đưa ra một giải thích. Nhưng đó là một mấu
chốt không thể không giải của bài thơ Nỗi Lòng Tô Vũ.