Hội
An, tỉnh lỵ cũ tỉnh Quảng Nam, một phố cổ miền Trung, có truyền thống
thường xuyên tổ chức nhiều lễ hội, mỗi năm theo âm lịch, bởi tại đó,
phần lớn cư dân đều là con cháu của các thương gia Hoa kiều, những nhà
lập nghiệp tiên phong đến Hội An đã mấy trăm năm, đã chịu ảnh hưởng
nhiều của văn hóa Khổng Giáo, nên tổ chức các lễ hội tùy theo thời tiết
trong năm. Tết Nguyên Ðán cử hành xong, tiếp theo là những đêm hát bội
công cộng miễn phí tại các Chùa, các Bang Hội Hoa kiều, trong suốt tháng
giêng, cử hành đại lễ Rằm Thượng Nguyên, tháng hai thì liên hoan giữa
các chùa, tháng 3 thì tiết Thanh Minh, tảo mộ, tháng tư lễ Phật Ðản
v.v... cư dân muốn tìm những sinh hoạt náo nhiệt qua các lễ hội vui nhộn
hầu lay động không khí tĩnh mịch của phố cổ nầy. Ngoài những lễ lớn 2
lần trong một năm mà thường gọi là Xuân kỳ, Thu tế, ngày trước, tại Hội
An cư dân hay tổ chức thường niên, 3 loại lễ hội lớn, mà mỗi khi nhắc
đến thì người dân Hội An hiểu rõ tường tận. Ðó là lễ Xô Cộ, lễ Cúng Xóm
và lễ Siêu Bạt và Soi Môi.
1.- Lễ Xô Cộ:
Lễ nầy thường tổ chức vào tháng giêng
hay tháng 7 âm lịch, có mục đích dâng cúng các phẩm vật lên các vị thần
hộ mạng thờ trong chùa các Bang Hội, cầu xin sự an bình trong cuộc sống,
sự tiến đạt trong công việc làm ăn, buôn bán, và dâng cúng cho các giới
vô hình như ma, qủy, các cô hồn...khỏi quấy phá địa phương. Số người Hoa
tại Hội An được sắp xếp vào 5 Bang Hội lớn: Quảng Ðông, Triều Châu, Phúc
Kiến, Hải Nam và Gia ng. Mỗi Bang đều có riêng một Chùa, vừa làm chỗ
thờ tự vị Thần Bổn Mạng bên trong, vừa làm văn phòng điều hành bên
ngoài, và 2 cánh 2 bên dùng làm hội trường và phòng họp. Ngoài việc tổ
chức các ngày rằm lớn: Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên để dâng
lễ cúng bà Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị thần bảo hộ các thuyền nhân trên biển
cả, Quan Thánh Ðế Quân hay Phục Ba đại tướng Mã Viện, các Bang Hội còn
tổ chức trọng thể lễ Xô Cộ tại các chùa Bang Hội. Mỗi Bang Hội tổ chức
xô cộ riêng biệt của Bang Hội mình. Tùy theo khả năng tài chánh thu
hoạch mỗi năm, tùy theo sự cầu nguyện của mỗi Bang Hội, các cộ quả phẩm
dâng cúng được đặt làm theo tiêu chuẩn khác nhau, như cộ heo, cộ bánh,
cộ gạo nếp, cộ muối, cộ trái cây v.v... Mỗi cộ có một sườn cốt làm bằng
tre, đan vành tròn làm đế, và trên đế tre nầy, người ta đan một vĩ tre
hình chóp nón, bên ngoài phất bằng giấy màu, thường là màu vàng hay đỏ
từ dưới đế lên tận trên chóp cộ. Nếu là cộ heo, thì phải dùng 3 con heo
quay, rọc xẻ trước ngực, căng 4 chân, gắn úp vào trên sườn giàn tre chóp
nón. Nếu là cộ bánh, thì sườn tre được đắp bằng bánh như bánh thuẩn,
bánh bò ngũ sắc, bánh lá đủ màu mang các danh hiệu các cửa tiệm buôn,
hay các công ty đắp từ dưới đế lên tận trên chóp cộ, trông từ xa như một
trái bắp mà các bánh là các hột bắp sắp theo hàng lối đủ màu. Nếu là cộ
gạo muối thì sắp các bao vải đủ màu, to bằng nắm tay, độn gạo và muối
cho căng đầy, may miệng bao lại, sắp từ dưới lên tới chóp, gắn trên đầu
chóp một trái châu đỏ quay tròn theo gió như một chong chóng. Nếu là cộ
bánh lá, bánh chưng hay bánh giò thì các bánh nầy cũng được sắp như vậy.
Các cộ được đặt trên một giàn tre cao hơn 3 thước, dựng trước cổng chùa.
Một vị cao tăng, đầu đội mũ hiệp chưởng, mặc điều y, ngồi trên giàn tre,
tay bắt ấn, miệng trì chú lâm râm giữa âm thanh của chiêng trống vang
rền pha lẫn với tiếng tang, linh theo nghi lễ Phật giáo, kêu gọi các
linh hồn uổng tử, cô hồn thập loại tập trung đông đủ tại lễ đàn. Theo
tiếng hú của vị Hòa thượng vừa dứt thì lệnh đẩy các cộ đầy quả phẩm được
xô từ trên giàn tre xuống đất, do đó người ta mới đặt cho cái tên là Xô
Cộ. Một số cư dân trong phố, trang bị gậy gộc, nai nịt gọn gàng đã tập
trung sẵn dưới chân giàn, chờ cộ xô xuống là nhào vô giành chiếm. Những
binh sĩ các đồn trại cũng đứng chờ sẵn, xông vào giựt cả một cộ heo quay
ôm chạy về đồn, có các đàn em bao che tập hậu, trong khi các băng đoàn
khác đuổi theo giành lại trong tiếng la ó gào thét. Theo tin tưởng dân
gian, người ta tin rằng những phẩm vật bắt được từ các cộ xô xuống mang
nhiều may mắn, vì đó là các tặng phẩm của các vị thần linh đã làm phép,
có khả năng làm cho những bệnh nhân kinh niên mau lành, con trẻ khó nuôi
sẽ khoẻ mạnh chóng lớn. Lễ xô cộ nầy không còn tổ chức hằng năm nữa, vì
Trung Hoa đã bị Nhật Bản chiếm đóng và quân đội Nhật đổ bộ ở bán đảo
Ðông Dương nên cư dân người Hoa bỏ lễ hội nầy từ năm 1940.
2.- Lễ rước Long Chu và Cúng Xóm:
Lễ nầy không nhất thiết tổ chức đúng
định kỳ, và tùy thuộc vào tình hình an ninh trong khu xóm. Khi một khu
phố bị mất an ninh, như bị một bệnh dịch hoành hành, tư gia bị mất trộm
hay hàng xóm thường hay gây gổ chưởi bới nhau vì một vài việc lặt vặt
thì người ta nghĩ rằng khu xóm bị đất động và các vị thần quản nhiệm các
khu xóm ấy quở trách, cần phải Cúng Xóm và rước Long Chu để trừ tà, trị
quỷ đem lại bình an trong xóm. Một vài bô lão tự nguyện đi lạc quyên
từng nhà trong xóm để gây quỹ tổ chức buổi lễ, sau đó chọn một góc phố
nào đó dựng rạp, căng lều, che vải phía trên và bố trí bàn thờ, bài vị
thổ thần, đầy đủ lư hương, chân đèn bằng đồng, trướng liễn, lọng tàn
mượn của các nhà trong xóm, dâng đủ quả phẩm bông hoa và trái cây. Ngoài
các lễ vật trên, còn có Long Chu. Long tức là Rồng, và Chu là chiếc
thuyền làm bằng tre., bề dài khoảng 3 thước, bề ngang 1 thước rưởi, phất
giấy màu ngũ sắc, mang hình một con rồng uốn khúc đủ cả râu ria, vi vảy,
mắt lồi, nhe răng nhọn. Trên thuyền có bố trí một chỗ có ghế ngồi, bên
cạnh một cột buồm bằng tre, trước mặt có chè xôi, chuối và giấy vàng mã.
Trong buổi sáng ngày lễ, chiêng trống được gióng lên inh ỏi báo hiệu cho
xóm biết buổi lễ cúng xóm bắt đầu để mọi người tập trung dự lễ. Một vị
bô lão cao niên nhất trong xóm, mặc áo thụng xanh, đứng chủ tế cùng một
số gia chủ thắp nhang khấn vái trước bàn thờ cầu mong sự bình an trong
khu xóm, tiếp theo là lễ dâng sớ do một vị tăng sĩ rước từ chùa đến tụng
kinh, và ông trưởng khu xóm qùy xuống đọc sớ văn theo nhịp điệu của
chuông mõ, chiêng linh, tay bắt ấn, day mặt bốn phương hướng kêu gọi cô
hồn các loại tập trung về đây để hưởng cúng thí thực. Vị pháp sư bốc
những nắm muối gạo từ trong các tô lớn, miệng lâm râm niệm chú và tung
vãi bốn phương, rót mấy tuần trà và rượu dâng lên bàn thờ và đốt các
giấy vàng mã. Chiếc Long Chu được kê trên một cái giá gỗ đặt trước sân.
Vị pháp sư miệng niệm chú, tay lần chuổi bước lên ngồi trên ghế đặt trên
Long Chu, tay nắm chặt cột buồm và được đỡ bổng lên bởi 4 tay lực lưỡng
mặc áo dài đen, bịt khăn, lưng thắt giây lụa đỏ ngang hông, khiêng trên
vai giàn tre, trên ấy Long Chu được đặt và xuất hành từ nơi cúng để chạy
rong trong thành phố. Thế là đám rước khởi hành mang theo sau một đám
con trẻ và một số người hiếu kỳ rượt đuổi theo, khua chuông trống tạo
thành những âm thanh rầm rộ, inh ỏi. Sau những người khiêng chiêng
trống, có một số đi sau, cầm các roi dâu, vừa chạy vừa quất hai bên
đường để đuổi tà ma chạy theo Long Chu. Các nhà bên lề đường đổ ra xem
và có nhà đốt pháo và khua tiếng động đuổi tà, chạy theo Long Chu. Sau
khi chạy qua các con đường chính, Long Chu đổi hướng chạy ra bờ sông và
dừng lại ở bến sông, hạ Long Chu xuống đất, vị pháp sư bước ra khỏi
thuyền. Long Chu được gở ra khỏi đòn tre và vị pháp sư khai hỏa đốt Long
Chu và đẩy xuống nước, sau khi để cho trẻ con và các người ăn xin rước
hết quả phẩm: chè xôi, cây trái. Ðoàn chạy Long Chu trở về lại xóm, vái
trước bàn thờ và buổi lễ kết thúc. Rạp sẽ được hạ xuống, lư hương, chân
đèn, liễn trướng, tàn lọng được tháo xuống đem trả lại cho gia chủ. Mọi
người tỏ vẻ hân hoan nghĩ rằng các điều xấu xa, bất lợi đã được tống khứ
theo Long Chu để đốt ra mây khói.
3.- Lễ Siêu Bạt và Soi Môi:
Lễ nầy phát xuất từ chùa Kim Sơn của
Bang Hội Phúc Kiến vào dịp rằm tháng bảy Trung Nguyên để cúng Thiên Hậu
Thánh Mẫu là vị Thần hay che chở các ghe thuyền buôn bán, vượt biển
khơi, mà thủy thủ phần đông là người Phúc Kiến, để truy điệu những người
mất tích và phải vớt vong hồn họ ra khỏi biển cả, siêu độ họ. Sau chánh
điện của chùa Kim Sơn, sau bàn thờ của Thiên Hậu Thánh Mẫu, 2 bên có 2
vị thần Thiên Lý Nhãn và Thiên Lý Nhĩ, có thờ 6 vị tướng nhà Minh chống
đối triều Mãn Thanh bị tử nạn trên đường vượt biển. Trong 6 vị tướng
nầy, có một vị rất linh thiêng thường xuất hiện qua các đồng cốt, mặt
màu xanh nên người Hoa thường gọi là ông Mặt Xanh. Nhiều giai thoại linh
thiêng thường được kể về vị thần nầy, thường hay giúp đỡ các trường hợp
oan ức mà nạn nhân đến kêu ca. Một gia đình công chức bị mất một số nữ
trang dấu trong tủ và nghi là cô tớ gái trong nhà lấy. Cô nầy bị chủ nhà
đưa ra pháp luật tra hỏi, oan ức quá, đến chùa Kim Sơn kêu oan. Ông
tướng Mặt Xanh lên đồng qua một người buôn bán ngoài chợ, bổng nhiên
người nầy chạy vào chùa Kim Sơn la hét, bảo mọi người chạy theo ông ta.
Ðoàn người chạy thẳng vào nhà cô cháu gái của gia đình công chức mất nữ
trang, ra sân sau và trong một chậu hoa để sau nhà, móc lên một gói giấy
đựng số nữ trang bị mất, mà thủ phạm không ai khác là cô cháu gái của
chủ nhà. Cô tớ gái được minh oan. Ông tướng Mặt Xanh nầy mỗi lần xuất
hiện thích đi trên than hồng và những nhà hai bên phố thường đốt các lò
than cho đỏ rực đem ra đổ ngoài đường, và những người lên đồng bước đi
trên than đỏ ấy mà chân không bị cháy phỏng tí nào. Ngoài những vụ thi
thố thần lực nói trên, ông Mặt Xanh còn giúp cho những người chết bất
đắc kỳ tử như chết sông, chết tai nạn xe tàu hay những người tự tử hiện
về khai với gia đình lý do của cái chết bất tử ấy, đồng thời siêu độ
vong linh họ. Cư dân phố cổ Hội An đã một thời quen thuộc với các lễ hội
nầy và không quên nhắc nhở những sự kiện xảy ra chung quanh các lễ hội
nói trên, tiếc rẽ những đổi thay của xã hội đã đưa các lễ hội nầy vào
quên lãng.