Tuệ Sỹ
một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri
của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng.
Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh
hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u.... Một
bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông :
Thâm dạ
phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Ông bảo làm
sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề
nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng
nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin
lai rai thử viết :
Thâm dạ
phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí Hải đa tàm trúc loạn ty
Và xin ông
chả nên lấy thế làm bực mình.
Nhưng ai có
ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng
lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm ? Một bài
thơ "Không đề" của ông đủ khiến ta khiếp vía
mất ăn mất ngủ :
Đôi mắt ướt
tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Mới nghe
bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê
cóng cả cõi dạ.
Từ núi
lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn
Tôi hoảng vía
đề nghị : Đại Sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ
tiếp nhiều cho, Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi
một thiên tài quá lớn.
Ông đáp : -
Để về hỏi lại cô Trí Hải xem có đúng như lời thế
chăng.
Đôi mắt ướt
tuổi vàng
Cung trời
Hội cũ
Xin xuống giòng
thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường
của hoài niệm. Hoài niệm gì ? - Cung trời hội cũ.
Một hội đạp
thanh ? Một hội nao nức ? - "Giờ nao nức của một
thời trẻ dại ?".
Đôi mắt ướt
tuổi vàng khung trời hội cũ...
Mở lời ra,
nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm.
Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán
lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long
lanh.... Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.
Nhưng mạch
thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không
cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết
mọi người đều "phải nói" với mọi người
"muốn nghe" với riêng mình "không thiết chi
chuyện nói".
Người thi sĩ
xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường
đó. Họ nói tất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất
nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói
cho họ, mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi người
mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới chuyện thiên hạ nghe
hay chẳng nghe. Nỗi vui, nỗi buồn của họ, dường như
chẳng phi giống lối vui buồn của chúng ta. Do đó chúng
ta trách móc họ một cách lệch lạc hết cả (par manque de
justice interne).
Trong một
cuộc vui, ta hỏi họ vài điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta
tưởng họ kiêu bạc. Trong lúc mọi người đang gào khóc
giữa đám tang, họ phiêu nhiên đi qua, trông có vẻ như
mỉm cười, niêm hoa vi tiếu. Ta tưởng họ tàn nhẫn thô
bạo.
Vua Gia Long ngày
xưa đã từng lấy làm quái dị về thái độ Nguyễn Du :
"Trẫm dùng người, không phân biệt kẻ Nam kẻ Bắc.
Ai có tài thì trẫm trọng dụng (... ...). Cớ sao khanh lại
u sầu ít nói suốt năm như thế ?".
Ông vua kia
lấy làm lạ là phải lẽ lắm, hợp với lương tri thói
thường thiên hạ lắm. Ông không thể hiểu vì sao vị di
thần kia cứ miên man như nằm trong cõi mộng thần di,
hồn dịch !
Vua đã ban
cho chan hòa mưa móc, lộc trọng quyền cao đặc ân thâm
hậu như thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa lòng, vẫn chưa
cứ thả mộng chạy lang thang về chân trời hướng khác.
Đáp : Ấy chính
bởi đôi mắt nhìn đây mà thấy những đâu đâu.
Đôi mắt ướt
tuổi vàng
Khung trời hội cũ
Đôi mắt ướt
? Đôi mắt của ai ? Vì sao ướt ? Vì lệ trào, hay là vì
quá long lanh ?
Thi sĩ không
nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng
nhiệm cho thơ.
Tha hồ chúng
ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt
trong hiện tại vì nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là
đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối
chan hòa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào,
mà ngày nay tại hạ đã đánh mất rồi chăng ?
"Áo màu
xanh không xanh mãi trên đồi hoang"
Áo nào màu
xanh ? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi
nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một
lần nhìn đắm đuối ?
Tôi nói không
sai sự thật mấy đâu. Vì Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào.
Cha mẹ ông kiều cư trên đất Thượng Lào Trung Việt. Bà
mẹ ông thỉnh thoảng cũng trở về Sài Gòn tới chùa
viếng ông đem quà cho ông một đôi dép riêng biệt, một
tấm khăn quàng riêng tây.
Đôi mắt ướt
tuổi vàng
Khung trời hội cũ
Áo màu xanh
Không xanh mãi
Trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ.
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Phút vội vã
bỗng thấy mình du thủ ?
Mình là thân
Bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên
một phút vội vã lại dám làm thân du thủ ? Dám gác bỏ
kệ kinh ? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện
trăng tàn ?
Phải có nhìn
thấy khuôn mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh
hoàng vì lời nói thăm thẩm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân
lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương
trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều
nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.
Từ núi
lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Mối tình
rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt
muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ
không gột rửa.
Từ núi
lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Ta tưởng như
nghe ra "cao cách điệu" bi hùng của một Liệp
Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc
Nietzche.
Thy nhân đã
mấy phen ngồi ngó trăng tàn ? Ngồi trên một đỉnh đá ?
Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh
tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải ?
Đỉnh đá và
hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và
biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây
rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của
trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng
sững tại giữa tuết nguyệt phiêu du :
Cười với
nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Một tiếng
"buồn chăng" lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như
ngậm ngùi ta thán, dìu về cả một khúc tâm thanh đoạn
trường :
Sen tàn cúc
lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Tiết nhịp lời thơ lại biến đổi :
Đếm tóc bạc
Tuổi đời
Chưa
Đủ
Bụi đường dài
Gót
Mỏi
Đi
Quanh
Tiết điệu
rạc rời như gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ
? Một tuổi xuân chưa vừa ? Một tuổi vàng sớm chấm
dứt ? Một tuổi "đá" sớm từ giã mọi yêu thương
?
Giờ ngó
lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa
Ngược nước
Xuôi ngàn
Bài thơ
dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đềm lữ thư
khép mình trong bốn bức tường với nhạt nhòa ủ rũ
ngục tù.
Chỉ một bài
thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ Đường
Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.