Trong một
cuộc tán gẫu về văn học quanh một bàn nhậu ở Việt Nam, dịp tôi về thăm nhà
vào cuối năm 2000, một người nghe đâu cũng làm thơ hỏi tôi:
"Nghe nói
hình như anh có viết một cuốn sách về Võ Phiến?"
Tôi gật
đầu xác nhận. Người ấy nói tiếp:
"Tôi không
hiểu tại sao anh lại mất thì giờ như vậy. Tôi thấy Võ Phiến viết xoàng
lắm."
Tôi kiên
nhẫn:
"Anh có
đọc Võ Phiến nhiều không?"
"Không.
Trước năm 1975, tôi chỉ đọc vài bài viết của ông ấy trên báo thôi."
"Còn sau
năm 1975 thì sao?"
"Không.
Tôi không đọc gì của ông ấy cả."
Tôi nói
cho qua chuyện:
"Sau năm
75, qua Mỹ, Võ Phiến viết nhiều lắm. Mới đây ông ấy cho in bộ sách về văn
học miền Nam dày đến 7 tập."
Nhà thơ nọ
bỗng lên giọng, gay gắt:
"Tôi thấy
ổng chỉ viết linh tinh."
Tôi ngạc
nhiên:
"Ủa, anh
đọc rồi hả?"
Nhà thơ nọ
đáp, đầy tự tin:
"Chưa. Tôi
không có bộ sách đó. Nhưng tôi có đọc mấy câu Võ Phiến phê bình Vũ Khắc
Khoan được trích trong một bài báo đăng trên tờ gì đó ở Mỹ."
Thành thực
mà nói, tôi không quan tâm đến việc nhà thơ vô danh nọ không đồng ý với
tôi hay coi thường Võ Phiến. Một phần, qua buổi trò chuyện, tôi không đánh
giá cao sự hiểu biết cũng như khả năng phán đoán của nhà thơ ấy cho lắm;
phần khác, quan trọng hơn, cho dù sự bất đồng ấy đến từ một người thông
minh và nhạy cảm hơn, tôi cũng cho là chuyện bình thường. Trong phạm vi
văn học, có lẽ chỉ có những điều vớ vẩn nhất, tức những điều ngay cả những
người không biết đọc và không biết viết cũng biết, mới hy vọng có thể được
mọi người đồng ý. Tuy nhiên, tôi vẫn không ngớt ngạc nhiên về thái độ của
nhà thơ ấy, một thái độ thô bạo và ngây thơ lạ thường. Thô bạo ở chỗ sẵn
sàng công kích bất cứ ai nói khác điều mình nghĩ, và ngây thơ ở chỗ cả tin
vào một vài câu trích dẫn bâng quơ đâu đó đến độ suồng sã nhảy xổ ra tranh
luận về những cuốn sách anh chưa hề đọc.
Thái độ
thô bạo và ngây thơ như vậy, tôi ngờ là xuất phát từ một sự ngộ nhận về
phê bình và dẫn đến hậu quả là làm cho công việc phê bình các hoạt động
phê bình cứ loanh quanh mãi trong vòng đàm tiếu vu vơ và vô bổ.
Điều đáng
ngạc nhiên và cũng đáng lo ngại hơn là thái độ thô bạo và ngây thơ như vậy
hình như lại khá phổ biến.
Vài ba
tháng trước khi tình cờ gặp nhà thơ kể trên, tôi được một nhà văn thuộc
loại khá có tiếng tăm ở California chuyển cho xem một xấp tài liệu của một
diễn đàn văn nghệ được tổ chức qua hệ thống internet. Nội dung của xấp tài
liệu ấy là cuộc thảo luận tập trung vào một bài phê bình bộ Văn Học Miền
Nam của Võ Phiến. Đọc các ý kiến được trình bày trong cuộc thảo luận, tôi
thấy rõ một điều: những người tham gia đều là những trí thức loại khá.
Nhìn chung, ai cũng có vẻ am hiểu tình hình sinh hoạt văn học miền Nam
trước năm 1975 và văn học hải ngoại sau năm 1975. Họ có lối lập luận khúc
chiết, một lối diễn đạt mạch lạc và đặc biệt, một thái độ nghiêm túc, lịch
sự và đầy nhiệt tình. Tuy nhiên, điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là cả
những người đồng ý và bênh vực bài phê bình lẫn những người không đồng ý
và phản đối bài phê bình ấy đều thú nhận là họ chưa hề đọc bộ Văn Học Miền
Nam của Võ Phiến. Chưa hề đọc bộ sách, tất cả những cứ liệu người ta dùng
để thảo luận với nhau một cách say sưa và... uyên bác là một số câu trích
dẫn cụt đầu cụt đuôi trong bài phê bình nọ, một bài phê bình vốn đầy ác ý
đối với Võ Phiến và được viết bởi một người, theo tôi, có một trình độ
hiểu biết và cảm thụ văn học khá tầm thường. Chỉ dựa trên một nguồn tài
liệu cực kỳ nghèo nàn và chắp vá như thế, những người tham gia vào diễn
đàn nhiều khi phải suy diễn thêm, phải kết hợp với một số tin đồn họ thu
nhận được đâu đó, cuối cùng, cuộc thảo luận càng lúc càng đi xa những gì
Võ Phiến thực sự viết. Nói cách khác, những người trí thức và có vẻ như
yêu thích văn học ấy đã bỏ rất nhiều thì giờ để thảo luận về những điều
họ... nghe nói, trên cơ sở của những gì họ... nghe nói. Tôi cho một việc
làm như thế, dù xuất phát từ những động cơ đầy thiện chí, vẫn là một
chuyện ngồi lê đôi mách, một việc làm vô cùng nhảm nhí.
Không
những nhảm nhí, nó còn phản văn học.
Chúng ta
đã có chữ phản khoa học để chỉ thái độ thiếu tôn trọng các giá trị khoa
học và đi ngược lại các phương pháp khoa học. Chữ phản văn học tôi dùng ở
đây nhằm chỉ thái độ coi rẻ các đặc trưng cơ bản của văn học, đối xử với
văn học như một cái gì không phải là văn học.
Đặc trưng
cơ bản của văn học là gì? Có nhiều cách trả lời tuỳ theo những quan điểm
khác nhau, tuy nhiên, có một điểm hầu như mọi trường phái phê bình hiện
đại đều chấp nhận, đó là: tính không thể giản lược và không thể thay thế
được của các tác phẩm văn học.
Với các
nhà hình thức luận ở Nga, những kẻ xem nghệ thuật là kỹ thuật như tựa đề
một bài viết nổi tiếng của Viktor Shklovsky "Art as Technique" (1), mục
tiêu chính của nghiên cứu văn học là tính văn chương; yếu tính của tính
văn chương nằm ở những sự vi phạm vào các thói quen để ngôn ngữ được lạ
hoá; nơi thể hiện chính của tính văn chương là các thủ pháp nghệ thuật; và
nơi tồn tại của các thủ pháp ấy chỉ có thể là văn bản. Với các nhà Phê
Bình Mới, tác phẩm văn học là một cái gì có tính tự trị: để hiểu nó, người
ta phải tiếp xúc trực tiếp với nó, căn cứ vào những yếu tố hình thức trong
văn bản, chứ tuyệt đối không được đi qua bất cứ một thứ trung gian nào
khác, kể cả tác giả (điều họ gọi là nguỵ luận về ý định, intentional
fallacy) và độc giả (điều họ gọi là nguỵ luận về hiệu ứng, affective
fallacy). Với các nhà cấu trúc luận, văn học không có gì khác hơn là ngôn
ngữ; ngôn ngữ không có gì khác hơn là các quan hệ; và các quan hệ ấy không
có gì khác hơn là cách cấu trúc của văn bản. Sau này, các lý thuyết văn
học hậu hiện đại đều phủ nhận tính khép kín và tính tự trị của văn bản,
đều nhấn mạnh vào tính liên văn bản, và đều tin là bên trong hoặc đằng sau
văn bản bao giờ cũng có sự hiện diện của vô số những yếu tố khác, từ ngôn
ngữ đến lịch sử, văn hoá, chính trị, xã hội, phái tính, chủng tộc, v.v...
Tuy nhiên, để tiếp cận với những yếu tố ấy, con đường duy nhất mà nhà phê
bình phải đi qua là chính cái văn bản mà họ phê bình.
Văn bản
văn học dù được xem là một chỉnh thể thống nhất và tự tại như chủ trương
của các nhà Phê Bình Mới, hình thức luận và cấu trúc luận hoặc như một bức
khảm của những trích dẫn (mosaic of quotations) như chủ trương của các nhà
giải cấu trúc luận, hậu cấu trúc luận, hậu thực dân luận, nữ quyền luận,
đều là một cái gì không thể thay thế được.
Như thơ,
chẳng hạn. Đến với thơ là phải đến với văn bản thơ. Khi bị tóm tắt, tức là
khi không còn là cái văn bản nguyên thuỷ của nó, thơ không còn là thơ nữa.
Nó chỉ còn lại một ít sự kiện và ý tưởng trong khi ai cũng biết thơ không
phải chỉ là sự kiện và ý tưởng. Bên cạnh sự kiện và ý tưởng, thơ còn có
ngôn ngữ với những cách thức tổ chức đặc biệt của nó, từ việc khai thác
các âm, vần, thanh điệu, cú pháp đến cách xây dựng hình tượng, đến cả cách
trình bày trên trang giấy, v.v... Đó là hình hài của thơ, là da thịt của
thơ, là nhan sắc của thơ, là... gần như tất cả thơ. Chính vì vậy, trước
đây các nhà Phê Bình Mới đã cực lực phản đối việc diễn xuôi (paraphrase)
thơ. Họ cho đó là điều bất khả.
Mà bất khả
thật. Làm sao người ta có thể chuyển ra văn xuôi mà vẫn giữ được cái nét
độc đáo trong hai câu thơ quen thuộc này của Xuân Diệu: "Ngẩng đầu ngắm
mãi chưa xong nhớ / Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya"? Thế cụm từ "chưa
xong nhớ" bằng bất cứ một hình thức diễn đạt nào khác, chẳng hạn,"chưa
nguôi nhớ" nghe chừng hợp lý hơn, hương vị của câu thơ chắc chắn sẽ bị
phai nhạt rất nhiều. Bởi vì chính chữ "xong" ấy đã làm cho chữ "nhớ" mới
hẳn: từ một động từ diễn tả tâm tình nó trở thành một động từ diễn tả động
tác, có tính vật lý và đầy sức nặng. Diễn ra văn xuôi, người ta có thể giữ
được sự liên tưởng đến hai câu thơ nổi tiếng của Lý Bạch ngày xưa "Cử đầu
vọng minh nguyệt / Đê đầu tư cố hương", từ đó giữ được tính liên văn bản
và tính xuyên thời gian của văn học; có thể giữ được cái ấn tượng lửng lơ
khi đằng sau động từ "ngắm" không hề có một đối tượng gì cả; có thể giữ
được cái ám ảnh về không gian và thời gian bằng cách lặp lại ở đầu câu
trên hai động từ liên quan đến không gian (ngẩng / ngắm) và lặp lại ở cuối
câu dưới hai danh từ liên quan đến thời gian (đêm / khuya); có thể giữ
được cái cách dùng một mùi hương để diê? tả ý niệm thời gian; và có thể
giữ được sự nhấn mạnh vào yếu tố thời gian ấy bằng cách dùng thật nhiều
các phụ từ như: mãi, chưa, xong, rồi, đã, v.v... Nhưng làm sao người ta có
thể giữ được cái cảm giác mang mang và man mác ở câu trên, khi để diễn tả
động tác ngắm và nỗi niềm nhớ, tác giả đã dùng thật nhiều vần trắc và
nguyên âm mở (ngẫng đầu ngắm mãi chưa xong nhớ) và cái cảm giác sâu lắng,
thoáng chút bùi ngùi và hắt hiu ở câu dưới, khi để diễn tả nỗi cô đơn
trong khuya khoắt, tác giả đã dùng thật nhiều vần bằng và nguyên âm khép
(hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya)?
Thơ như
thế mà văn xuôi thì cũng như thế. Một cuốn tiểu thuyết, chẳng hạn, không
phải chỉ là một cốt truyện để có thể tóm tắt được một cách dễ dàng. Dùng
một cốt truyện, được viết bởi hai nhà văn khác nhau, chúng ta có thể có
hai tác phẩm khác nhau một trời một vực. Thử tước bỏ tất cả cách diễn tả
độc đáo và sắc sảo của Nguyễn Tuân hay của Phạm Thị Hoài, chỉ giữ lại cốt
truyện trong các truyện ngắn của họ, chúng sẽ còn là cái gì? Chắc chắn
chúng không khác các truyện ngắn trong các tờ báo học trò bao nhiêu cả.
Thử tước bỏ các chi tiết nho nhỏ trong bộ truyện Sông Côn mùa lũ của
Nguyễn Mộng Giác, chỉ giữ lại cốt truyện về những bước thăng trầm trong
gia đình giáo Hiến hay về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn hay về bối cảnh chính
trị và xã hội vào nửa sau thế kỷ 18, bộ truyện ấy sẽ còn lại cái gì? Chẳng
còn cái gì cả. Bởi nét đặc sắc của Sông Côn mùa lũ không nằm trên cái cấu
trúc vĩ mô gắn liền với các biến động lớn lao của lịch sử, tức những mùa
nước lũ, mà nằm ở những chi tiết nho nhỏ, có vẻ như thứ yếu, liên quan đến
những đám bèo trôi giạt theo các dòng nước lũ ấy. Mất chúng, bộ truyện
dường như mất tất cả. Trong vô số các chi tiết nho nhỏ ấy, thử nêu lên một
ví dụ: dòng nước. Sông Côn mùa lũ mở đầu bằng hình ảnh một dòng sông, lúc
gia đình giáo Hiến lếch thếch bồng bế nhau đi tị nạn, và kết thúc cũng
bằng một dòng sông, sông Bến Ván, nơi dừng chân của mẹ con An. Nó mở đầu
bằng dòng kinh nguyệt đầu tiên của An và kết thúc cũng bằng dòng kinh
nguyệt của Thái, con gái của An. Giữa những dòng chảy ấy là dòng chảy điên
cuồng của đất nước và của số mệnh từng người: những cuộc "hành kinh" của
lịch sử.
Nên lưu ý
là hình ảnh về những dòng chảy ấy, dưới nhiều hình thức và với nhiều mức
độ khác nhau, bàng bạc trong hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác chứ
không riêng gì trong Sông Côn mùa lũ. Tên các tác phẩm của ông: Nỗi băn
khoăn của Kim Dung, Bão rớt, Tiếng chim vườn cũ, Qua cầu gió bay, Đường
một chiều, Ngựa nản chân bon, Xuôi dòng, Mùa biển động (5 tập), và Sông
Côn mùa lũ (4 tập), trong đó, trừ tập tiểu luận đầu và tập truyện thứ hai,
các tựa sách khác đều sử dụng một trong ba hình tượng: gió, nước và con
đường. Nhiều nhất là hình tượng nước. Trong tám tựa sách, ba tựa sau cùng,
tất cả đều xuất hiện sau năm 1975, đều liên quan đến nước. Tựa cũ của
Đường một chiều là Bóng thuyền say cũng liên quan đến nước. Qua cầu gió
bay cũng thấp thoáng hình ảnh của nước. Ám ảnh về nước thật ra là ám ảnh
về sự chuyển động. Hai hình tượng còn lại, gió và con đường, cũng gắn liền
với ý niệm về chuyển động ấy.
Toàn là
những sự chuyển động bất thường và ngoài ý muốn: đường thì một chiều, biển
thì động, sông thì đang mùa lũ, gió thì bay, bay dữ đến độ thành bão rớt.
Sự say mê đối với các chuyển động, thật ra, không có gì mới: nó đã có ít
nhất từ thời phôi thai của tiểu thuyết. Sự say mê đối với các chuyển động
bất thường và ngoài ý muốn cũng không mới: đó là sự say mê chung của hầu
hết các nhà văn hiện thực. Tuy nhiên, ở phần lớn các nhà văn hiện thực, sự
say mê đối với các chuyển động, nếu là chuyển động xã hội, thường dẫn đến
cảm hứng phê phán, nếu là chuyển động lịch sử, thường dẫn đến cảm hứng sử
thi với những bức tranh hoành tráng, ở đó, người đọc có thể nhìn thấy
những nhân vật cao hơn hẳn đời thường; ở Nguyễn Mộng Giác thì niềm say mê
đối với các chuyển động xã hội chỉ dẫn đến những cảm hứng nhân đạo và niềm
say mê đối với các chuyển động lịch sử chỉ dẫn đến một cái nhìn mang đầy
tính bi kịch. Người bị ám ảnh nhiều về con đường cũng là người viết cuốn
Ngựa nản chân bon; người bị cuốn hút bởi những hình tượng như biển động,
mùa nước lũ cũng lại là tác giả của cuốn Xuôi dòng; người say mê Kim Dung,
nhà văn chuyên viết truyện chưởng đầy tính bạo động lại chú ý nhất, ở Kim
Dung, một khía cạnh ít bạo động nhất: nỗi băn khoăn... Tính chất chuyển
động, do đó, cứ như gắn liền với tính chất mỏi mệt; tính chất dữ dội lúc
nào cũng song song với một cái gì như thể ngao ngán. Nghịch lý ấy thể hiện
rất rõ trong phong cách của Nguyễn Mộng Giác: thích những đề tài lớn nhưng
trong các đề tài lớn ấy lại chỉ chú ý đến các chi tiết nhỏ; thích lịch sử,
nhưng trong lịch sử, chỉ xoáy vào các khía cạnh đời thường; thích các anh
hùng, nhưng ở các anh hùng, chỉ tập trung ngòi bút vào những khoảnh khắc
yếu đuối; thích tả phụ nữ ở cái mốc tuổi dậy thì, nhưng ở tuổi dậy thì,
lại dừng lại ở một dấu ấn ít thơ mộng nhất: kinh nguyệt. Có thể nói, tất
cả các nhân vật của Nguyễn Mộng Giác đều là những nạn nhân. Những thanh
niên trí thức ở Huế một thời ồn ào và hung hãn với giấc mộng anh hùng
trong Mùa biển động, cuối cùng, cũng chỉ trở thành một đám nạn nhân nhếch
nhác của lịch sử. Ngay nhân vật Quang Trung trong Sông Côn mùa lũ cũng
không hẳn là một anh hùng. Đậm nét nhất trong hình ảnh nhân vật Quang
Trung của Nguyễn Mộng Giác không phải là một võ tướng xông pha giữa trận
địa hoặc một vị vua đầy quyền lực mà chỉ là một kẻ hay thao thức trong đêm
khuya, hay băn khoăn trong lòng, hay ngập ngừng trong giọng nói, hay
thoáng vẻ bối rối trên khuôn mặt, và hay tần ngần trong mỗi bước đi. Có
cảm tưởng Quang Trung cũng chỉ là một nạn nhân của lịch sử: lịch sử xô ông
tới, đẩy ông lên những đỉnh cao, và cuối cùng, thật bất ngờ, làm cho ông
biến mất. Quang Trung như thế, các bà vợ của Quang Trung cũng như thế. Cứ
thử đọc lại đoạn Nguyễn Mộng Giác tả cảnh Ngọc Hân đi gặp hoàng hậu, vợ
chính của Quang Trung. Hai người đàn bà quyền uy nhất nước thời bấy giờ
không khác hai người đàn bà bình thường bao nhiêu cả: họ cũng bối rối,
cũng cảm thấy nhỏ nhoi và bơ vơ khi đối diện với nhau, và cũng yếu ớt vô
cùng: người thì đầy hoang mang, phải dựa vào bạn; kẻ thì phải ôm con chặt
vào lòng cho thêm tự tin (2). Có thể nói, ngòi bút của Nguyễn Mộng Giác
chỉ phát huy hết sự tinh tế khi dừng lại ở những bức tranh nho nhỏ và tội
nghiệp như thế. Khi phải tả những sự lớn lao và dữ dội, ông thường dùng
biện pháp lướt, tức chỉ vẽ thoáng qua, thật nhanh (3), hoặc có khi phải
dựa dẫm vào người khác, hoặc các sử liệu hoặc một tác phẩm của ai đó cùng
đề tài (4). Bởi vậy, nếu bỏ qua các chi tiết có vẻ như nằm ngoài mạch
truyện chính, bộ truyện Sông Côn mùa lũ cũng như cả Mùa biển động sẽ không
còn là gì cả.
Tôi dùng
Nguyễn Mộng Giác để làm ví dụ là nhằm để chứng minh một luận điểm: ngay ở
những nhà văn mà tài năng chủ yếu là ở cách kể chuyện thì các tác phẩm của
họ cũng không thể bị giản lược được.
Đó cũng là
sự khác biệt giữa các tác phẩm sáng tác và các tác phẩm phê bình hay lý
luận. Các tác phẩm thuộc loại sau có thể bị giản lược. Dù vậy, việc giản
lược ấy phải được tiến hành với một số điều kiện nhất định, trong đó, điều
kiện quan trọng nhất là phải tôn trọng tính hệ thống của lập luận, nghĩa
là, thứ nhất, không quá tập trung vào những chi tiết nhỏ nhặt trong những
câu văn khai triển hoặc đẩy đưa; thứ hai, không tách một từ hoặc một nhóm
từ ra khỏi câu văn và không tách câu văn ra khỏi mạch văn của nó để suy
diễn hoặc xuyên tạc. Hơn nữa, ngay cả khi việc giản lược ấy được thực hiện
một cách cẩn thận và bởi một người có uy tín lớn thì nó cũng không thể
thay thế hoàn toàn cho cái văn bản mà nó giản lược. Lý do đơn giản là bất
cứ sự giản lược nào cũng đều là một sự diễn dịch (interpretation); mà bất
cứ sự diễn dịch nào cũng đều mang dấu ấn chủ quan, xuất phát từ tầm hiểu
và tầm nhìn của người diễn dịch. Bởi vậy, để nhận định một cách nghiêm túc
về một công trình phê bình hay lý luận nào đó, điều kiện tiên quyết là
phải tiếp cận với văn bản: đó là cái tuyệt đối không thể bị thay thế.
Cũng có
thể nói một cách khái quát hơn: chỉ có một con đường duy nhất để tiếp cận
với văn học, từ sáng tác đến phê bình và lý luận văn học, đó là qua văn
bản. Một cuộc thảo luận về văn học, dưới hình thức viết hay hình thức nói,
chỉ có thể nghiêm túc khi nó bắt đầu với việc đọc văn bản. Thái độ bất
chấp văn bản bao giờ cũng là một thái độ phản văn học.
Thật ra,
trong nghệ thuật cũng thế. Tính không thể thay thế được cũng là đặc trưng
cơ bản của nghệ thuật nói chung. Muốn thưởng thức hay đánh giá tranh của
Đỗ Quang Em hay một bức tượng của Lê Thành Nhơn ư? Thì chỉ có một cách duy
nhất: phải nhìn tận mắt. Muốn thưởng thức một bản nhạc của Trịnh Công Sơn
hay một bản hoà tấu của Hoàng Ngọc-Tuấn ư? Thì phải mở băng nhạc ra mà
nghe.
Trên thực
tế, có lẽ hiếm có người nào đủ can đảm bàn luận về những bức tranh mình
chưa xem hay những bản nhạc mình chưa nghe. Nhưng lại có vô số người sẵn
sàng chõ miệng vào bàn tán về những tác phẩm văn học mà họ chưa từng đọc
bao giờ. Lạ lùng. Tôi cho một thái độ như thế là một thái độ vừa phản văn
học lại vừa bất lương: nó làm ra vẻ có thẩm quyền ở cái nơi nó hoàn toàn
không biết gì cả. Hơn nữa, đó cũng là một hành động nói leo vụng về: nó
bất chấp những nguyên tắc sơ đẳng của lý luận và nó tin cậy một cách nhẹ
dạ vào những điều hoàn toàn chưa được kiểm tra.
Điều đáng
kinh ngạc và cũng rất đáng buồn là những kẻ nói leo ấy lại thường sử dụng
một thứ khẩu khí đầy quyền uy. Khẩu khí quyền uy ấy chúng ta rất dễ bắt
gặp, đây đó, trên sách báo cũng như ngoài xã hội, trong những kiểu nói,
đại khái: "Anh cho ông này viết hay hả? Tôi thì tôi thấy ông ấy viết xoàng
lắm!" hay: "Tôi không hiểu tại sao anh lại khen cuốn sách đó; với tôi, nó
dở ẹc!", v.v... Tôi gọi đó là thứ khẩu khí quyền uy vì tiền đề của nó là
thái độ tự xem mình là chân lý, xem những ý kiến riêng của mình như một
thứ chuẩn mực để đánh giá người khác: nếu anh/chị nghĩ giống tôi, anh/chị
đúng; nếu anh/chị nghĩ khác tôi, anh/chị...sai. Khẩu khí quyền uy như thế
khác hẳn giọng điệu mạnh mẽ của các nhà phê bình khi khẳng định một quan
điểm hay một thái độ: sự khẳng định được công bố như kết quả của một chuỗi
phân tích tư liệu và lý luận chặt chẽ, do đó, đầy tính chất duy lý, và
cũng do đó, sẵn sàng đón nhận mọi sự đối thoại, nếu không muốn nói là
khiêu khích tinh thần đối thoại. Khẩu khí quyền uy, ngược lại, đầy cảm
tính, và thực chất là một sự chạy trốn đối thoại. Nó chỉ dẫn đến bế tắc.
Lý do là giữa những người đối thoại không hề có một cơ sở nào chung cả.
Người này nói" Tôi thích", người kia nói: "Tôi không thích"; người này
nói: "Tôi thấy hay", người kia nói: "Tôi thấy dở". Thế là hết chuyện.
Không
những chỉ dẫn đến ngõ cụt, khẩu khí quyền uy và cùng với nó, cách suy nghĩ
tự lấy mình làm trung tâm như vậy thực chất là một sự vi phạm vào nguyên
tắc dân chủ trong sinh hoạt văn học, ở đó, mọi người, từ giới sáng tác đến
giới phê bình và độc giả đều có quyền yêu thích đặc biệt một hiện tượng
văn học nào đó. Đó là cái quyền của mỗi người. Một chị bán hàng chỉ đọc
tiểu thuyết như một cách giải trí nhẹ nhàng trong lúc vắng khách hoàn toàn
có quyền để yêu thích một tác giả bình dân và ăn khách, từ Kim Dung cho
đến Quỳnh Dao, từ Hồ Trường An cho đến Nguyễn Ngọc Ngạn mặc dù chị không
có quyền bắt người khác phải chấp nhận đó là những tác giả lớn. Ngược lại,
một người đọc để tìm vui trong việc khám phá những cái hay, cái mới của
ngôn ngữ và của nghệ thuật, cũng có quyền để yêu thích những tác phẩm hiểm
hóc và xem đó như những công trình đầy tính sáng tạo mặc dù người ấy không
có quyền đòi hỏi những người đến với văn chương như một cách tiêu khiển
phải chia sẻ cách nhìn ấy của mình. Trong cuộc đời, chúng ta dễ dàng chấp
nhận những cái quyền tự nhiên và khá hiển nhiên ấy.
Xin lưu ý
là cả các nhà phê bình cũng được hưởng những cái quyền tự nhiên và hiển
nhiên ấy. Nghĩa là, các nhà phê bình cũng được quyền yêu thích một số tác
giả hay một số tác phẩm nhất định nào đó. Trước đây, khi viết cuốn Thi
Nhân Việt Nam, Hoài Thanh tỏ vẻ yêu thích đặc biệt đối với một số nhà thơ
như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, v.v... Đó là cái quyền của ông. Sau
này, trong cuốn Thơ Miền Nam 1954-75, Võ Phiến cũng tỏ vẻ yêu thích đặc
biệt đối với một số người như Tô Thuỳ Yên, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn,
Nguyễn Bắc Sơn, thậm chí, Giản Chi, Đỗ Tấn, Trần Bích Tiên, v.v... Đó cũng
là cái quyền của ông. Những cái quyền ấy cần phải được tôn trọng.
Những cái
quyền ấy đầy tính chủ quan. Mà phê bình thì không thể không chủ quan.
Donald A. Stauffer có lần khẳng định: "nhà phê bình không thể là một nhà
phê bình lý tưởng nếu hắn tự cho mình là tiếng nói vô ngã của chân lý; hắn
cũng không thể là nhà phê bình lý tưởng nếu mối quan tâm hàng đầu của hắn
không phải là tác phẩm nghệ thuật."(5) Không phải ai cũng đồng ý với quan
điểm ấy. Một số người, như Northrop Frye, muốn loại trừ tính chất chủ quan
bằng cách loại trừ các loại phán đoán giá trị ra khỏi phê bình (6). Nhưng
người ta không có cách nào loại hết các phán đoán giá trị được: nó hiện
diện ngay ở việc chọn lựa đề tài và chọn lựa tư liệu. Đó là số mệnh của
phê bình.
Tính chất
chủ quan làm phê bình vĩnh viễn không thể là một lời phán quyết chung thẩm
cho bất cứ một hiện tượng văn học nào cả. Mọi hành động phê bình đều là
những hành động cô đơn và bất định, ở đó, người ta biết là không có gì bảo
hiểm chắc chắn cho việc phát ngôn của mình, trừ kiến thức, kinh nghiệm và
quan trọng hơn, trực giác thẩm mỹ của mình. Có lẽ đây là điểm khác biệt
chủ yếu giữa một phán đoán thẩm mỹ và các loại phán đoán khác. Đánh giá ai
đó có tội hay không có tội, chúng ta căn cứ vào điều khoản này hay điều
khoản nọ trong luật pháp, hoặc, đơn giản hơn, căn cứ vào những nguyên tắc
đạo lý phổ quát trong xã hội. Đánh giá một nhận định nào đó có chính xác
hay không, chúng ta có thể căn cứ vào luận lý học hoặc các dữ kiện thu
thập được từ thực nghiệm hay thực tế. Còn đánh giá cái hay, cái đẹp của
một tác phẩm văn học? Chúng ta không có một căn cứ nào vững chắc cả. Không
thể căn cứ vào các nguyên lý, các quy luật hay các khuôn mẫu trong lịch sử
văn học bởi vì chúng chỉ hiện hữu trong một không gian và một thời gian
giới hạn nào đó mà thôi. Cũng không thể căn cứ vào các thành tựu và các
giá trị được xem là vĩ đại trong quá khứ và được xem là những điển phạm
trong lịch sử vì lý do đơn giản là, những thành tựu, những giá trị và
những điển phạm ấy là những gì mọi người cầm bút chân chính đều muốn phủ
nhận hoặc muốn vượt qua trong cuộc hành trình sáng tạo của chính họ. Thành
ra, trong thế giới văn học, chúng ta không thể nhân danh ai khác ngoài
chính mình. Nhân danh mình, chúng ta yêu tác phẩm này và ghét bỏ tác phẩm
nọ. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, khi cho bài "Ông đồ" là kiệt tác của Vũ
Đình Liên, "Gửi Trương Tửu" là kiệt tác của Nguyễn Vỹ, "Màu thời gian" là
kiệt tác của Đoàn Phú Tứ,hay khi cho lời văn của Xuân Diệu có cái gì như
chơi vơi, đằng sau câu thơ của Nguyễn Nhược Pháp dường như có một tiếng
cười khúc khích, đằng sau câu thơ của Huy Cận có một nỗi buồn rười rượi và
đằng sau câu thơ của Thâm Tâm thấp thoáng những nỗi bâng khuâng khó hiểu
của thời đại, v.v... Hoài Thanh cũng không nhân danh cái gì khác ngoài
trực quan của bản thân ông. Và chúng ta, khi đồng ý với những nhận định
vừa nêu của Hoài Thanh, chúng ta cũng chỉ nhân danh chúng ta mà đồng ý.
Bất cứ khi nào chúng ta không nhân danh chính mình mà lại nhân danh một
thứ quyền lực nào đó, bất cứ là quyền lực gì, chẳng hạn như danh tiếng hay
uy tín của một trào lưu hay một bậc tiền bối, chúng ta đều đi ra ngoài cơ
chế sáng tạo và bị rớt vào cơ chế hành chánh của văn học, ở đó, văn học đã
bị xơ cứng thành những kiến thức phổ thông, và ở đó, chúng ta không còn là
những chủ thể cảm xúc và tư duy nữa mà chỉ là một đơn vị trong một tập thể
đã bị điều kiện hoá? Nói cách khác, ở đó, chúng ta hoàn toàn bị tha hoá.
Một cách đọc như thế thực chất là một sự phản bội lại bản chất của văn
học, một hình thức sinh hoạt văn hoá tồn tại trước hết là để con người trở
về với cái tôi của họ, với thế giới riêng tư và thầm kín của họ.
Phê bình
là chủ quan. Tuy nhiên, tính chất chủ quan ấy phải có giới hạn thì mới có
thể có đối thoại, và do đó, mới có thể có phê bình được. Cái giới hạn ấy
chủ yếu xuất phát từ hai yếu tố. Thứ nhất, đối tượng của phê bình: văn
học. Một sự yêu thích chỉ có tính văn học khi tác phẩm được đọc như một
công trình văn học chứ không phải như bất cứ một thứ gì khác, từ một
phương tiện để tuyên truyền đến một phương tiện để giải trí. Trong ví dụ
nêu ở trên, chúng ta cho một chị bán hàng đọc truyện để giải trí có quyền
yêu thích những tác giả ăn khách và bình dân nhưng lại không chấp nhận ở
chị cái quyền xem những tác giả ấy là những tác giả lớn là vì thế. Vì nó
đi lạc phạm trù: chị chỉ xem những tác phẩm ấy như những phương tiện giải
trí thì chị cũng chỉ có quyền đánh giá chúng như những trò giải trí mà
thôi. Một người đọc các tác phẩm văn học như những công cụ tuyên truyền
cũng vậy: họ có thể khen những tác phẩm ấy có giá trị tuyên truyền hoặc
giáo dục nhưng khi có ý định tán tụng những tác phẩm ấy như những tác phẩm
văn học lớn, họ cũng đã đánh lận hai phạm trù khác nhau: phạm trù nghệ
thuật và phạm trù chính trị. Những sự lẫn lộn phạm trù như vậy thực chất
là một biểu hiện của tính chất thiếu chuyên nghiệp, nơi mọi ranh giới đều
nhoà lẫn vào nhau: nhoà lẫn giữa văn học và phi văn học, giữa phê bình và
đàm tiếu. Thứ hai, mặc dù trong các phán đoán thẩm mỹ, người ta chỉ có thể
nhân danh chính mình, nhưng cái "mình" mà người ta nhân danh ấy thực chất
bao giờ cũng là một cái "mình" tập thể: nó là kết quả của vô số sự tương
tác trong quá trình giáo dục và xã hội hoá của từng cá nhân. Không ai có
thể thực sự đọc một mình. Đọc bao giờ cũng là cùng đọc với những người
khác, trong đó có vô số những người đã chết. Khi chúng ta đọc Truyện Kiều,
chẳng hạn, chúng ta luôn luôn "đọc chung" với Phạm Quý Thích, Chu Mạnh
Trinh, Tản Đà, Phạm Quỳnh, Trương Tửu; hơn nữa, chúng ta còn "đọc chung"
với cả những tác giả ngoại quốc, tư những lý thuyết gia Nho học ở Trung
Hoa đến các lý thuyết gia thuộc các trường phái hiện thực, lãng mạn, phân
tâm học, hiện sinh, hiện tượng luận, Mác-xít ở Tây phương, v.v... Chính
những mối quan hệ chằng chịt này làm cho bất cứ cái đọc nào cũng có tính
lịch sử, và tính lịch sử này, đến lượt nó, trở thành một giới hạn của tính
chủ quan trong phán đoán thẩm mỹ: phán đoán ấy có thể được/bị đánh giá
trên cơ sở một sự đối chiếu với những ý kiến đã có.
Tính chất
chủ quan làm mọi lời phát biểu của nhà phê bình chỉ nên được xem như những
lời đề nghị, một hình thức tiến cử với công chúng và với lịch sử những tác
phẩm hắn xem là có giá trị và xứng đáng được bảo tồn. Tính chất tương đối
trong những sự chủ quan ấy làm nhà phê bình bị buộc phải đối diện với nhu
cầu tăng cường sức thuyết phục cho những phán đoán của mình: trong lúc
không thể đoan chắc về tính chính xác của những nhận định ấy, hắn phải tự
chứng minh những nhận định ấy là đúng đắn, ít nhất so với một phương pháp
luận và một quan điểm thẩm mỹ nào đó mà hắn đã lựa chọn. Điều này có nghĩa
là nhà phê bình phải bạch hoá quá trình cảm thụ và đánh giá của mình. Hắn
không thể là kẻ nói theo kiểu "thánh phán". Hắn phải có bổn phận, dưới
hình thức này hoặc hình thức khác, tự chứng minh cho các luận điểm của
mình.
Hành động
tự chứng minh ấy là một biểu hiện của tinh thần trách nhiệm. Có thể nói
nhà phê bình chỉ vượt lên khỏi tư cách độc giả để thực sự trở thành nhà
phê bình khi ít nhiều chứng minh được những gì mình cho là hay, là đẹp.
Một độc giả bình thường, trong một lúc ngà ngà men rượu hay men tình, có
thể cho một bài thơ nào đó của Nguyên Sa là hay nhất Việt Nam, chẳng hạn.
Không sao cả. Nhưng một nhà phê bình thì khác. Bằng sự phân tích, nhà phê
bình phải mô tả những cái hay trong bài thơ ấy, và bằng sự so sánh, làm
cho người đọc thấy được cái hay ấy quả là một cái hay lớn, hơn nữa, lớn
hơn hẳn những cái lớn khác.
Tinh thần
trách nhiệm cũng đòi hỏi nhà phê bình phải sẵn sàng bảo vệ các quan điểm
của mình. Có lẽ đây là một trong những sự khác biệt giữa nhà phê bình và
người sáng tác. Người sáng tác không cần bảo vệ tác phẩm của mình. Một tác
phẩm sáng tạo, từ một bài thơ dăm ba câu đến một cuốn tiểu thuyết dày cả
hàng ngàn trang, ngay sau khi được xuất bản, có một đời sống riêng, một số
mệnh riêng, giữa một công chúng đông đảo và xa lạ, ở đó, nó phải tự giải
thích cho nó và tự bảo vệ nó. Tác giả không cần, không nên và thật ra thì
không thể nhảy ra phân bua với thiên hạ về những động cơ, những chủ ý hay
những điều mình tâm đắc trong quá trình sáng tác. Vô ích. Tác phẩm, nếu
hay, tự nó đầy đủ cho nó; nếu dở, càng ồn ào thì càng lố bịch thêm. Tuy
nhiên, một tác phẩm phê bình hay lý luận thì khác. Khác, ở hai điểm. Một,
nó thuộc thế giới của nhận thức mà nhận thức thì cần lý giải, hơn nữa, cần
cả sự cọ xát để được toàn diện, hoặc ít nhất, sáng tỏ hơn. Hai, vốn là một
sự phát biểu về một tác phẩm, một sự kiện hay một vấn đề văn học gì đó, nó
ít nhiều liên quan đến người khác, hoặc như một đối tượng được đề cập hoặc
như một đối tượng để tác động, do đó, người phát biểu phải sẵn sàng đứng
ra bảo vệ các luận điểm ấy cũng như nhận chịu mọi hậu quả do việc phát
biểu ấy mang lại. Khi bị phê phán, người phát biểu không thể chạy tội bằng
cách cho là mình chỉ phóng bút theo cảm hứng. Nói thế là vô trách nhiệm.
Nói thế là biến phê bình thành chuyện dèm pha tầm phào.
Gắn liền
với những sự yêu thích có tính chất cá nhân, tất cả các công trình phê
bình đều, trước hết, là một sự phản ánh khẩu vị văn học (taste) của nhà
phê bình, sau đó, may ra, với một mức độ nào đó, mới là một sự phản ánh
của tình hình sinh hoạt văn học một thời đại. Gắn liền với tinh thần trách
nhiệm, mọi công trình phê bình nghiêm túc đều có tham vọng từ vương quốc
chủ quan vươn tới vương quốc khách quan, từ những cảm nhận xuất phát từ
trực giác và kinh nghiệm đến những phân tích mang tính khái niệm.
Đánh giá
một nhà phê bình, chúng ta không đánh giá ở chỗ hắn giống với những người
đọc bình thường, tức ở chỗ hắn thích hay không thích một tác giả, tác phẩm
nào đó. Đó là cái quyền của hắn, thuộc phạm vi cá nhân của hắn. Việc đánh
giá một nhà phê bình chỉ nên bắt đầu từ chỗ nhà phê bình ấy biến tác phẩm
được mình yêu thích thành một mô hình nghệ thuật, hơn nữa, còn có tham
vọng thuyết phục người đọc chấp nhận mô hình nghệ thuật ấy là một sự sáng
tạo có giá trị; nói cách khác, từ chỗ nhà phê bình biến cái yêu cái ghét
của mình thành một thứ quan điểm thẩm mỹ và có tham vọng biến quan điểm
thẩm mỹ ấy thành một giá trị thẩm mỹ có tính phổ quát. Lúc ấy, hắn đã vượt
ra ngoài phạm vi cá nhân. Hắn đã xuất hiện như một nhân vật công cộng
(public figure).
Việc đánh
giá ở đây chủ yếu xoay quanh ba nội dung chính:
Thứ nhất,
việc phân tích và chứng minh cái hay, cái đẹp của nhà phê bình có đủ sức
thuyết phục hay không? Hắn khen một tác phẩm nào đó là hay? Được thôi.
Nhưng cái cách hắn chứng minh cái hay ấy ra sao, đó mới là điều quan
trọng. Hắn thành công nếu sau khi đọc xong, người đọc thấy tác phẩm ấy tự
nhiên hay hơn hẳn, mới hơn hẳn và sâu sắc hẳn; nếu người đọc thấy rằng
việc đọc quả là một cuộc khám phá thú vị và bổ ích, ở đó, họ bắt gặp những
điều hoàn toàn bất ngờ trong lãnh thổ của nghệ thuật và cái đẹp. Ngược
lại, hắn sẽ thất bại thảm hại nếu đọc xong, người đọc thấy tác phẩm ấy vẫn
cũ mèm và thế giới thơ văn vẫn không rộng thêm một chút xíu nào cả. Tuy
nhiên, ở đây, chúng ta cần cẩn thận: phần lớn những gì có vẻ như giàu sức
thuyết phục thường là những cái đã cũ, do đó, chưa chắc đã có giá trị thực
sự. Để kiểm tra tính thuyết phục của một luận điểm đôi khi cần khá nhiều
thời gian và cần một tầm nhìn rộng, bao quát cả một hay nhiều trào lưu văn
học trong một hay nhiều thời đại khác nhau, không những trong quá khứ hay
trong hiện tại mà cả trong hướng vận động của văn học từ hiện tại chuyển
đến tương lai. Nói cách khác, ở đây, khi đánh giá một sự đánh giá, người
ta không những cần kiến thức mà còn cần cả viễn kiến và sự nhạy bén nữa.
Thứ hai,
quan điểm thẩm mỹ nào làm nền tảng để dựa theo đó nhà phê bình đánh giá
cái hay và cái lớn của văn học? Không có một nhà phê bình nghiêm túc nào
lại không xuất phát từ một quan điểm thẩm mỹ nhất định. Chính quan điểm ấy
làm cho ý kiến của nhà phê bình tránh được nguy cơ trở thành bất nhất và
rỗng tuếch. Quan điểm ấy, một cách tự giác hay tự phát, thể hiện qua hai
hình thức khác nhau. Một, những lời phát biểu trực tiếp dưới dạng khái
niệm về văn học. Hình như hiếm có nhà phê bình nào lại không có những lời
phát biểu trực tiếp như thế, hoặc thành bài riêng hoặc xen kẽ trong các
bài phê bình. Ngay cả ở những nhà phê bình có khuynh hướng hoài nghi lý
thuyết hay chống lại lý thuyết như hầu hết các nhà phê bình Việt Nam,
chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những đoạn ít nhiều mang tính lý thuyết như
thế. Hai, quan điểm mỹ học thể hiện rõ hơn và đáng tin cậy hơn qua những
tác giả hoặc tác phẩm mà nhà phê bình yêu thích. Ở trên, tôi có viết là
chúng ta cần tôn trọng cái quyền yêu thích một hiện tượng văn học nào đó ở
nhà phê bình, tuy nhiên, xin nhấn mạnh thêm là: tuy chúng ta không phê
bình sự lựa chọn ấy vì bản thân sự lựa chọn ấy, chúng ta vẫn có thể phê
bình chúng như một cách thức thể hiện quan điểm mỹ học của nhà phê bình.
Nói cách khác, câu hỏi không phải là "tại sao nhà phê bình lại yêu thích
những tác giả hay những tác phẩm ấy?" mà là: "sự yêu thích ấy tiết lộ điều
gì trong cái gu thẩm mỹ của nhà phê bình?". Chắc chắn không phải ngẫu
nhiên mà Hoài Thanh lại nhiệt liệt khen ngợi thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế
Lan Viên, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương... hơn hẳn những người
khác. Cũng chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà Võ Phiến lại cảm thơ của một
số người này mà lại không thể cảm nổi thơ của một số người khác. Loại bỏ
tất cả những lý do phi văn học, đằng sau những sự lựa chọn ấy là những
quan niệm khá nhất quán về thơ, về cái đẹp trong thơ và về chức năng của
thơ, cơ sở để tạo nên sự đồng điệu, và từ đó, của sự ưu ái của họ. Đi sâu
vào những quan niệm ấy, có khi chúng ta sẽ bắt gặp, chẳng hạn, giữa Hoài
Thanh và Võ Phiến, tuy có khá nhiều dị biệt trong văn phong cũng như tư
tưởng, lại có những tương đồng khá sâu sắc và bất ngờ khi họ đối diện với
thơ: cả hai đều là những nhà lãng mạn chủ nghĩa hồn nhiên và chân thành.
Cũng nên lưu ý là tính chất lãng mạn chủ nghĩa ấy khá mờ nhạt khi Võ Phiến
phê bình văn xuôi, và càng mờ nhạt hơn nữa khi ông sáng tác. Đi sâu vào
những quan niệm như thế, công việc phê bình phê bình có nhiều hứa hẹn mở
ra những khám phá thú vị hơn và nhất là, có cơ sở hơn: trong khi chúng ta
rất khó đánh giá một sự yêu thích thì chúng ta lại dễ dàng đánh giá một
quan điểm bởi vì, thứ nhất, nó thuộc phạm trù nhận thức, thứ hai, nó có
tính lịch sử, nhờ đó, chúng ta có thể tiến hành việc so sánh để nhận ra
tính chất đúng/sai và mới/cũ trong quan điểm ấy.
Cuối cùng,
điều chúng ta có thể làm và nên làm là đánh giá xem quan điểm thẩm mỹ của
nhà phê bình có gì mới lạ và có làm phong phú thêm cách hiểu của chúng ta
về văn học hay không? Chính câu hỏi thứ ba này không chừng mới là câu hỏi
quan trọng nhất. Nó phân biệt những công trình phê bình mang tính sáng tạo
và những sự nhai lại. Một công trình phê bình chỉ có thể được xem là có
đôi chút giá trị khi nó phát hiện một cái gì mới hoặc trong cách đọc hoặc
trong tác phẩm được đọc; những phát hiện mà trước đó chưa ai biết hoặc một
số người đã biết nhưng lại chưa tự giác hẳn về cái biết của mình. Ví dụ,
không có công trình phê bình nào về Truyện Kiều có thể được xem là có giá
trị nếu nó chỉ lẩn quẩn với việc chứng minh lại những kiến thức phổ thông;
nếu nó không làm cho Truyện Kiều có một diện mạo mới, khác với những gì
chúng ta đã quen nghĩ; nếu nó không giúp mở rộng vốn hiểu biết của chúng
ta về Truyện Kiều, từ đó, giúp mở rộng, dù chỉ một chút, địa dư của cái
gọi là văn học.
Có thể nói
tầm vóc của công trình phê bình chủ yếu tuỳ thuộc vào tầm vóc của những
phát hiện ấy: phát hiện cái hay ở đơn vị câu, chữ khác với việc phát hiện
cái hay ở tổng thể của tác phẩm, và việc phát hiện cái hay của tác phẩm
khác với việc phát hiện một cách nhìn hoặc một góc độ nhìn để từ đó không
những tác phẩm được đề cập mà còn nhiều tác phẩm khác nữa tự nhiên trở
thành khởi sắc và giàu có hẳn.
Nói tóm
lại, đánh giá một nhà phê bình, chúng ta không thể không đọc những gì hắn
viết. Trong những gì hắn viết, chúng ta cần tôn trọng cái quyền yêu ghét
chủ quan, tức cái quyền thích tác giả này và không thích tác giả nọ, yêu
tác phẩm này và không yêu tác phẩm kia của hắn. Xâm phạm vào quyền cá nhân
ấy bao giờ cũng là một hành động thô bạo. Điều chúng ta cần làm và có thể
làm là: thứ nhất, phê bình các luận điểm của hắn; thứ hai, phê bình việc
chứng minh các luận điểm ấy của hắn; cuối cùng, thứ ba, phê bình cái hệ mỹ
học mà hắn bênh vực hay khen ngợi. Theo tôi, nếu biết dừng lại ở những
giới hạn như thế, chúng ta có thể bảo vệ được văn hoá phê bình, giúp phê
bình giữ được tính chất trí thức và trách nhiệm của nó, đồng thời, trong
đời sống, giảm thiểu được vô số những cuộc cãi cọ lằng nhằng vừa vô duyên
vừa vô ích.
Nguyễn Hưng Quốc
30.4.2001
Chú thích:
-
Bài
này được nhiều người dịch ra tiếng Anh và in trong rất nhiều tuyển tập phê
bình và lý thuyết khác nhau, chẳng hạn, trong cuốn Contemporary Literary
Criticism,Literary and Cultural Studies, do Robert Con Davis và Ronald
Schleifer biên tập, nxb Longman, New York,1989, tr.54-66; cuốn Literary
Theory: an Anthology, do Julie Rivkin và Michael Ryan biên tập, Blackwell
Publishers, Massachusetts,1998,tr. 17-23,v.v...
-
Sông
Côn mùa lũ, tập 4, tr. 1562-1571.
-
Ví dụ
đoạn tả trận đánh ở Thăng Long đầu năm Kỷ dậu trong Sông Côn mùa lũ, tập 4
Chương 96, tr. 1847-1864.
-
Chẳng
hạn cuốn Tháng Ba gãy súng của Cao Xuân Huy và cuốn Ngày N+ của Hoàng Khởi
Phong.
-
Donald
A. Stauffer (biên tập) (1966), The Intent of the Critic, Bantams Books,
New York, tr. 5.
-
Northrop
Frye (1957), Anatomy of Criticism, Four Essays, Penguin Books, London, tr.
3-29.