Trong bài "Viết cho ai?" (1), tôi đặt vấn đề: Người đọc là ai? Cũng liên
quan đến chuyện "viết cho ai?" ấy, tôi nghĩ, có một vấn đề khác cũng cần
được đặt ra: Nhà văn là ai?
Câu trả lời
chắc chắn không đơn giản. Khái niệm nhà văn thay đổi theo thời gian:
ngày xưa, ở Việt Nam, bất kể ở những tài năng lớn hay nhỏ, tư cách nhà
văn đều bị chìm khuất, thật mờ nhạt, đằng sau tư cách của những ông
quan, ông đồ, ông cử hay ông tú. (2) Khái niệm nhà văn cũng thay đổi
theo thể loại: trong ý nghĩa này, nhà văn chỉ là tên gọi chung cho nhiều
loại người khác nhau, từ một nhà thơ đến một nhà tiểu thuyết, một nhà
tuỳ bút, một nhà viết kịch hoặc một nhà phê bình và lý luận văn học.
Khái niệm nhà văn còn thay đổi theo phương pháp sáng tác người ta sử
dụng: một nhà cổ điển, một nhà lãng mạn, một nhà hiện thực, một nhà siêu
thực, một nhà hiện đại chủ nghĩa hoặc một nhà hậu hiện đại chủ nghĩa...
Khái niệm nhà văn cũng thay đổi theo những mục tiêu mà người ta, qua
động tác viết, nhắm tới: có người viết để độc giả tiêu khiển, có người
viết để tuyên truyền cho một quan điểm và để kích động tâm lý của quần
chúng, có người viết để thoả mãn lòng say mê đối với chữ nghĩa, cũng có
người viết để chỉ gửi lòng mình vào thiên cổ, với hy vọng, may ra...
Lặn sâu vào
những sự đa dạng và phức tạp ấy để tìm hiểu vấn đề "nhà văn là ai?" hẳn
là một điều vô cùng thú vị (3). Tuy nhiên, trong bài này, tôi chọn một
góc độ khác không kém thú vị nhưng lại thực tế hơn: nhà văn không là ai?
Cái không là
cái vô hạn. Ở đây, tôi chỉ dừng lại ở một số nét chính.
Như, nhà văn
không phải là nhà báo, chẳng hạn.
Về phương
diện lý thuyết, sự phân biệt giữa nhà văn và nhà báo thật vô cùng đơn
giản. Nhà báo trước hết là tình nhân của các vấn đề thời sự, trong khi
nhà văn, trước hết, là tình nhân của nghệ thuật. Nhà báo đuổi theo các
sự kiện, trong khi nhà văn đuổi theo cái đẹp. Với nhà báo, chữ nghĩa là
phương tiện; với nhà văn, chữ nghĩa là cứu cánh. Tiêu chuẩn để đánh giá
các nhà báo là tính chính xác và tính kịp thời, trong khi tiêu chuẩn chủ
yếu để đánh giá một nhà văn là sự nhạy cảm và sự độc đáo. Đại khái thế.
Sự khác biệt khá rõ ràng. Ít ai có thể lẫn lộn được. Có điều, ở Việt Nam
thì khác. Ranh giới giữa nhà văn và nhà báo, cho đến nay, vẫn rất nhập
nhằng. Đầu tiên là nhập nhằng về phương diện sinh hoạt: cả nhà văn lẫn
nhà báo đều sử dụng một sân chơi chung: các tờ báo. Hầu hết các nhà văn
chuyên nghiệp đều ít nhiều là các nhà báo chuyên nghiệp. Nguồn thu nhập
chính của họ không đến từ sách mà là từ báo. Đăng trên báo thì gọi là
bài báo; in lại dưới hình thức sách thì thành ra chương sách. Tính chất
thông tin và giải trí vốn là đặc trưng của báo chí dần dần trở thành đặc
trưng nổi bật của vô số các tác phẩm được gọi là văn học, đặc biệt dưới
nhãn phê bình và tiểu luận. Hậu quả của điều này là sự nhập nhằng trong
phong cách viết lách của nhà văn và của nhà báo: khi viết báo, người ta
vẫn thích chút văn vẻ sang cả của văn chương, và khi làm văn chương
thật, người ta lại không dứt bỏ được thói vội vàng đến cẩu thả của những
người đưa tin. Từ hai sự nhập nhằng trên dẫn đến sự nhập nhằng khác,
nhập nhằng trong danh xưng: không hiếm người làm báo, hoàn toàn làm báo,
thích mạo nhận là nhà văn và hay lẩn quẩn vào sân chơi văn chương để
giành ghế của người này và đòi cụng ly với người khác. Tính chất xô bồ
và nhếch nhác trong sinh hoạt văn học Việt Nam lâu nay, trong cũng như
ngoài nước, theo tôi, phần lớn xuất phát từ đám người mạo danh ấy.
Trong ba sự
nhập nhằng trên, sự nhập nhằng đầu tiên hầu như không thể giải quyết
được trong tình hình kinh tế và xã hội hiện nay khi số người đọc sách
quá ít và, hơn nữa, quá thấp; sự nhập nhằng thứ ba rất khó giải quyết
một phần vì không thể có cá nhân hay tổ chức nào đủ quyền lực để ngăn
chận tình trạng mạo danh; phần khác, quan trọng hơn, vì chính giới nhà
văn cũng chưa đủ sức để tạo hẳn cho mình một diện mạo và một thế giá
riêng, nhờ đó, có thể tự phân biệt mình và những kẻ ăn theo. Nói cách
khác, nguyên nhân chính của tình trạng xô bồ và nhếch nhác trong sinh
hoạt văn học Việt Nam lâu nay không phải chỉ do sự hiện diện của những
kẻ mạo danh mà còn vì, nếu không muốn nói chủ yếu là vì sự bất tài của
những kẻ được xem là nhà văn.
Chỉ có sự
nhập nhằng thứ hai là có thể giải quyết được. Chỉ cần chút nỗ lực và
nhất là, chút tự giác. Nỗ lực giữ ngòi bút của mình không bị trượt vào
sự dễ dãi, không bị cuốn theo thói quen, và nhất là, không bị biến thành
thứ phương tiện chỉ xài một lần rồi bị vứt bỏ; nỗ lực biến mỗi bài viết
thành một công trình kiến trúc hoàn chỉnh bằng ngôn ngữ. Nhưng muốn thế,
người ta cần phải, trước hết, tự giác về những đặc điểm và những chuẩn
mực của văn chương để có thể, ít nhất, biết được khi nào mình còn ở
trong lãnh thổ của văn chương và khi nào thì không; khi nào mình đang
làm văn chương và khi nào mình chỉ thải ra chữ.
Cái ý thức
tự giác ấy thật ra là một tài năng: đó là sự nhạy cảm về độ, về ngưỡng,
về giới hạn, về sợi chỉ mong manh căng qua ranh giới giữa cái đẹp và cái
đèm đẹp. Cái ý thức tự giác ấy cũng là một biểu hiện của văn hoá: đó
chính là ý thức về giá trị và kỷ luật, ở đây chủ yếu là giá trị văn
chương và kỷ luật của nghề làm văn chương. Hai khía cạnh này có quan hệ
chặt chẽ với nhau: ý niệm về độ hay ngưỡng bao giờ cũng gắn liền với ý
niệm về giá trị và kỷ luật. Bởi vậy, tôi cho điều quan trọng nhất trong
việc tách nhà văn ra khỏi nhà báo là các nhà văn, chính các nhà văn,
phải xây dựng và phải tôn trọng bảng giá trị và kỷ luật của văn chương:
họ có thể sống như một nhà báo và viết như một nhà báo, nhưng khi đã có
ý định làm văn chương thì phải quyết tâm làm văn chương thực sự, phải
chấp hành những kỷ luật của văn chương và phải nhắm tới những giá trị
văn chương chứ không phải bất cứ một thứ giá trị gì khác; nghĩa là, nói
cách khác, phải tích cực đẩy mạnh quá trình chuyên nghiệp hoá văn học.
Biện pháp
này, nghĩ cho cùng, cũng có thể áp dụng cho sự nhầm lẫn giữa tư cách nhà
văn và tư cách cán bộ.
Đúng ra, đó
không phải là một sự nhầm lẫn. Đó là một sự cố tình đồng nhất tư cách
nhà văn và tư cách cán bộ để tạo thành một thứ nhà-văn-cán-bộ như cái
điều vẫn phổ biến tại Việt Nam từ năm 1945 đến nay (4). Sự đồng nhất này
nằm trong âm mưu hành chính hoá và chính trị hoá văn học, biến văn học
thành một bộ phận trong guồng máy nhà nước, ở đó, mỗi người cầm bút là
một viên chức được trả lương và phải có nhiệm vụ chấp hành mọi mệnh lệnh
từ giới lãnh đạo.
Khi văn hoá
văn học bị khống chế bởi văn hoá hành chính, những cái được xem là giá
trị không phải là tinh thần sáng tạo mà là sự vâng phục; không phải sự
độc đáo mà là sự bình thường; không phải cá tính mà là ý thức tập thể;
không phải cái riêng mà là cái chung. Từ văn hoá hành chính, nhà văn xem
việc thực hiện trách nhiệm đối với tổ chức quan trọng hơn trách nhiệm
đối với văn học, xem cái đẹp không bằng cái có ích, xem việc trung thành
đối với các quan điểm và chính sách của đảng là một yêu cầu đạo đức cũng
như xem tính hiệu quả trong việc phục vụ cho các quan điểm và các chính
sách ấy là thước đo tài năng. Nói cách khác, khi văn hoá văn học bị
khống chế bởi văn hoá hành chính, bảng giá trị văn học cũng bị khuynh
loát bởi những yếu tố ngoài văn học. Theo bảng giá trị đó, địa vị, học
vị hoặc tuổi tác của người cầm bút có tầm quan trọng cao hơn hẳn sáng
tác của hắn. Cứ nhìn vào thứ tự bài vở trong các tạp chí hay các tuyển
tập văn học thì rõ: những người thuộc giới lãnh đạo, từ lãnh đạo đảng,
nhà nước đến lãnh đạo các cơ quan, đoàn thể, bao giờ cũng đứng đầu, bất
kể tài năng của họ lớn hay nhỏ, tác phẩm của họ hay hay dở. Hậu quả là
về phương diện phê bình, những người được tôn vinh nhất, những người hầu
như luôn luôn đứng ở hàng đầu trong mọi danh sách được phong thần, lại
là những người ít có tinh thần sáng tạo nhất, những người mà tác phẩm
không những không có chút xíu gì là độc đáo mà thậm chí còn không có cả
những phẩm chất tối thiểu để được gọi là văn chương: đó là những người
được xem là có công lãnh đạo giới cầm bút hoặc những cán bộ cầm bút
trung thành và tậ? tuỵ đối với chế độ (5). Có lẽ những người còn thiết
tha với văn học và còn giữ ít nhiều sự độc lập trong cách suy nghĩ cũng
thấy được cách đánh giá như thế là phi lý và lố bịch, tuy nhiên, không
ai dám công khai phản đối: trong văn hoá hành chính, bởi vì uy tín văn
học thường gắn liền với quyền lực nhà nước, một sự phản đối như thế
không được xem là một sự chống đối thuộc phạm vi văn học mà là một sự
chống đối thuộc phạm vi chính trị.
Điều đáng
lưu ý là khi văn hoá văn học bị khống chế bởi văn hoá hành chính, không
phải chỉ có nhà-văn-cán-bộ mà còn có cả những độc-giả-cán-bộ.
Độc-giả-cán-bộ ở đây không phải là những cán bộ đóng vai độc giả mà là
những độc giả đóng vai cán bộ, đọc trong tinh thần của một cán bộ, dù
độc giả ấy, trên thực tế, không phải là cán bộ và cũng không phải là
người ăn lương của nhà nước, thậm chí, có khi đã di tản hẳn ra nước
ngoài. Đọc trong tinh thần cán bộ là đọc với tâm thế tự nguyện chấp hành
kỷ luật và với ý thức bảo vệ những tôn ti trật tự đang có. Một
độc-giả-cán-bộ đánh giá tác phẩm trước hết dựa theo cái tên của tác giả:
nếu đó là tác phẩm của một người thuộc giới lãnh đạo, họ sẽ đọc với thái
độ cung kính của một thuộc hạ; nếu đó là tác phẩm của một người được xã
hội xếp vào bậc thầy, họ sẽ đọc với thái độ ngoan ngoãn của một tên học
trò; nếu đó là tác phẩm của một người không có chức vị gì đáng kể, họ sẽ
đọc với thái độ phê phán có khi khắc nghiệt, có khi suồng sã của một kẻ
bề trên hoặc ngang hàng; nếu đó là tác phẩm của một người bị xem là thù
nghịch, họ sẽ đọc với thái độ hoàn toàn phủ định và đầy ác ý. Hơn nữa,
khi đọc, điều một độc-giả-cán-bộ cần tìm kiếm nhất bao giờ cũng sự tái
khẳng định những điều vốn đã được xem là chân lý bất biến. Họ không bao
giờ cảm thấy chán khi đọc đi đọc lại những trích dẫn trùng lặp từ các
tác phẩm được gọi là kinh điển hoặc từ các loại sách báo phổ thông.
Ngược lại, điều làm họ dị ứng nhất chính là những cái mới lạ: trong tâm
lý của một cán bộ, cái mới lạ bao giờ cũng hàm chứa một nguy cơ gây đảo
lộn cái trật tự hiện có và cũng chính là cái trật tự họ muốn bảo vệ.
Nếu sự áp
đảo của văn hoá hành chính gắn liền với chủ nghĩa xã hội và tồn tại chủ
yếu ở miền Bắc trước năm 1975 cũng như trong cả nước sau năm 1975 (6)
thì sự áp đảo của văn hoá chính trị lại là hiện tượng phổ biến trong
sinh hoạt văn học Việt Nam từ trước đến nay, ở cả miền Nam lẫn miền Bắc,
ở trong nước lẫn ở hải ngoại. Theo văn hoá ấy, nhà văn đồng nghĩa với
một nhà chính trị, dù hầu hết chỉ là thứ chính trị gia theo đuôi.
Được hay tự
đồng nhất với nhà chính trị, nhà văn nhìn mọi hiện tượng không phải từ
góc độ thẩm mỹ mà trước hết, từ góc độ quyền lực, theo đó, viết là tham
gia vào một cuộc đấu tranh, và một tác phẩm hay là tác phẩm góp phần đắc
lực vào công cuộc đấu tranh ấy. Trong văn hoá chính trị, chỉ được xem là
đẹp những gì có chức năng của một thứ vũ khí. Ngược lại là phù phiếm.
Điều này giải thích tại sao bao nhiêu nhà văn say mê viết cáo trạng hay
luận chiến, và cũng giải thích tại sao người ta lại làm ầm ĩ chung quanh
những tác phẩm được xem là phản kháng đến như thế. Ở hải ngoại, hình như
những tác phẩm làm sôi động dư luận nhất đều xuất phát từ trong nước và
đều có một đặc điểm giống nhau: tố cáo một tội ác nào đó của chế độ cộng
sản.
Xuất phát từ
văn hoá chính trị, sáng tác là để tập hợp lực lượng, hay nói như ai đó,
một cách "gọi đàn". Điều người cầm bút quan tâm nhất là được đồng tình,
đồng ý và được chấp nhận. Muốn thế, người ta thường tránh xa mọi sự
thách đố. Người ta phải tự mài mòn cá tính của mình, tự bóp chết những
giấc mơ tìm tòi và thử nghiệm. Văn hoá chính trị bao giờ cũng là văn hoá
của đại chúng: nó đề cao những cái chung chung và những cái tầm tầm. Nó
xem phản ứng của quần chúng như một thứ nhiệt kế văn học: tác phẩm được
quần chúng hiểu, thích và nhớ là thành công; ngược lại, là thất bại,
hoặc thất bại về nghệ thuật (chưa đủ trình độ để chinh phục người đọc),
hoặc thất bại về đạo đức (cố tình làm ra vẻ cao vĩ để dối gạt hay hù doạ
quần chúng).
Tự bản chất,
một thứ văn hoá như thế rất xa lạ với văn hoá văn học. Khác với các lãnh
vực khác, văn học là thế giới của sự riêng tây. Văn học không làm người
ta tụ lại với nhau mà làm cho mỗi người tách ra một cõi riêng. Từ cả
việc viết lẫn việc đọc, người ta đều một mình. Chức năng cao cả nhất của
văn học, theo tôi, là nuôi dưỡng cái "một mình" ấy: một mình mình đối
diện với chính mình; một mình mình lắng nghe những tiếng thì thầm của
ngôn ngữ; một mình mình đi vào thế giới mênh mông vô cùng vô tận của sự
sáng tạo. Trong những cuộc hành trình một mình đi vào cõi riêng tây như
thế, chỉ có những khám phá mới mẻ hoặc những cách thể hiện mới mẻ mới
thực sự có ích: chúng làm cuộc hành trình đẹp hơn và làm cõi riêng giàu
có hơn. Chính vì vậy, với tư cách là một công việc sáng tạo, mọi cái
viết chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó thách đố lại với thói quen và định
kiến, khi nó gây hấn với mọi lối mòn và mọi quy ước. Một nhà văn lớn là
người, bằng tác phẩm của mình, góp phần mở ra những biên giới mới hoặc
đưa ra định nghĩa mới cho các khái niệm văn học hoặc thể loại văn học.
Cũng chính vì vậy, văn học có thể đi liền với cách mạng nhưng lại rất
khó song hành với chính trị: khi các lực lượng cách mạng đã giành được
chính quyền thì cũng là lúc văn học bị lâm nguy.
Nói cách
khác, một nhà văn có thể là một nhà chính trị nhưng không thể viết như
một nhà chính trị: viết như một nhà chính trị là sự phản bội đối với
tinh thần sáng tạo.
Và nhà văn
cũng không thể viết như một nhà giáo.
Ở đâu nhà
văn và nhà giáo cũng có quan hệ khá chặt chẽ với nhau. Cả hai loại người
này đều sinh hoạt chủ yếu trong thế giới sách vở. Nghề giáo lại tương
đối có nhiều thì giờ, một điều kiện khá thuận lợi cho sáng tác. Cho nên,
nhìn chung, những nhà văn xuất thân tư hoặc kiêm nhiệm nghề dạy học
chiếm tỉ lệ khá cao trong giới cầm bút. Riêng ở Việt Nam, quan hệ giữa
nhà văn và nhà giáo lại càng sâu đậm. Ngày xưa, trong suốt thời kỳ Trung
đại, nghĩa là từ cuối thế kỷ 19 trở về trước, sinh hoạt văn học Việt Nam
gắn chặt với học đường và thi cử: chính trong môi trường giáo dục, người
ta được sống với văn chương nhiều nhất. Học, chủ yếu là học văn chương.
Thi, chủ yếu là thi văn chương. Không phải ngẫu nhiên mà chữ "văn nhân",
trước khi có nghĩa là nhà văn như hiện nay, đã từng mang ý nghĩa là một
người học trò (7).
Mối quan hệ
lâu đời giữa văn học và giáo dục đã để lại một số dấu ấn trên văn học:
văn hoá giáo dục nếu không bao trùm thì cũng bàng bạc trong văn hoá văn
học, theo đó, tính chất giáo huấn được xem là một trong những chức năng
chính của văn học. Hậu quả là phần lớn các nhà văn Việt Nam đều có
khuynh hướng viết văn như một nhà giáo, hoặc là một nhà giáo tích cực:
viết để truyền bá đạo lý; hoặc là một nhà giáo tiêu cực: tránh né việc
mô tả những điều có thể có ảnh hưởng xấu đến phong hoá. Cả hai đều có vẻ
như một thứ nhân viên xã hội, lúc nào cũng băn khoăn về tình trạng sức
khoẻ tinh thần của cộng đồng. Cả hai đều đặc biệt thích những câu chuyện
có hậu. Và cả hai đều căm ghét những sự xáo trộn, kể cả những xáo trộn
cần thiết về phương diện văn chương và thẩm mỹ.
Một biểu
hiện khác của việc viết văn như một nhà giáo là khuynh hướng diễn giải.
Đối với nghề dạy học, một trong những yêu cầu quan trọng nhất là phải
làm sao cho học trò hiểu vấn đề. Muốn thế, thầy/cô giáo phải giảng.
Giảng là phân tích, là quảng diễn, là nêu ví dụ. Giảng từ tên bài học
đến các khái niệm căn bản trong bài học ấy. Giảng như là tất cả học trò
của mình đều là những kẻ hoàn toàn nhập môn, chưa từng biết gì về nội
dung bài học cả. Cứ thế, nhà giáo phải giảng đi giảng lại những điều cực
kỳ căn bản. Rất tiếc, không ít người đem cả thói quen diễn giảng ấy vào
văn chương. Trong bài viết của họ, mỗi câu văn phải cõng trên lưng nó
năm bảy câu giải thích. Chuyện mới, giải thích đã đành. Ngay cả những
chuyện xưa như trái đất cũng vẫn giải thích. Lặp lại những kiến thức sơ
đẳng và cũ rích, cách viết như thế là một sự xúc phạm đến sự hiểu biết
của người đọc. Giọng văn làm nhàm và lảm nhảm, cách viết như thế là một
sự xúc phạm đến tính chất thẩm mỹ của văn chương.
Theo tôi, để
văn chương hàm súc và ý vị, nhà văn phải viết trong giả thiết là người
đọc của mình là những người cực kỳ thông minh và uyên bác: hắn không cần
phải viết những gì, thứ nhất, độc giả có thể đã biết rồi; thứ hai, độc
giả có thể chưa biết nhưng có thể tìm hiểu ở những nguồn tài liệu khác.
Với những người đọc thông minh và uyên bác ấy, hắn phải viết những điều
thông minh và uyên bác tương xứng, nghĩa là, ít nhất phải thông minh và
uyên bác hơn chính bản thân hắn. Lâu nay, trong những cách nghĩ thông
thường, chúng ta có khuynh hướng xem tác phẩm chỉ là một phần của tác
giả: nếu tác phẩm ấy có điều gì thông minh và uyên bác thì đó chỉ là một
phần trong sự thông minh và uyên bác của tác giả. Sự thật ngược lại.
Những tác phẩm thành công nhất của một tác giả bao giờ cũng thông minh
hơn, uyên bác hơn, do đó, giàu có hơn và cũng cao hơn hẳn tác giả ấy.
Những tác phẩm ấy trở thành một thách thức đối với chính cái kẻ đã tạo
ra chúng. Đối diện với thách thức ấy, nhiều người đã đầu hàng: họ buông
bút, không viết nữa.
Những tác
phẩm tồn tại như một thách thức đối với chính tác giả của chúng hoàn
toàn có quyền tồn tại như một thách thức đối với độc giả: để tiếp cận
chúng, người ta bị đòi hỏi phải có một sự cố gắng nhất định. Dĩ nhiên
không phải ai cũng làm được điều đó. Nhưng đó không phải là điều đáng
quan tâm: phần nhiều những độc giả ấy không phải là những độc giả văn
học thực sự; có thể họ vẫn đọc, đọc khá thường xuyên nữa là khác, nhưng
cái họ tìm kiếm không phải là văn học, tức những giá trị thẩm mỹ liên
quan đến nghệ thuật ngôn ngữ. Họ đến với văn học một cách hờ hững hoặc
thiên lệch và, như là hệ quả của sự hờ hững và thiên lệch ấy, họ chẳng
bao giờ giúp được gì trong việc tăng thêm tuổi thọ cho các tác phẩm văn
học. Có được vài chục ngàn, vài trăm ngàn, hoặc thậm chí, vài triệu độc
giả, như một số nhà văn best-sellers trên thế giới, người ta cũng không
có chút bảo đảm nào là sẽ được đọc lâu dài.
Nói tóm lại,
trong phạm vi bài này, tôi chưa dám khẳng định nhà văn là ai, nhưng tôi
biết chắc một điều: dù là ai đi nữa thì nhà văn, ít nhất là lúc cầm bút
làm văn chương, nhất định không phải là một nhà báo, kẻ chỉ xem chữ
nghĩa như một phương tiện để rượt đuổi theo các sự kiện không ngừng diễn
ra và không ngừng bị vùi lấp. Nhà văn cũng nhất thiết không phải là một
cán bộ, kẻ chỉ biết phục tùng; một nhà chính trị, kẻ chơi trò mị dân,
chỉ thích đầu tư trên cái vốn chung và cũ của tập thể; một nhân viên xã
hội, kẻ đầy tinh thần trách nhiệm đối với xã hội và vì tinh thần trách
nhiệm ấy, sẵn sàng hy sinh cả nghệ thuật. Cuối cùng, nhà văn cũng nhất
thiết không phải là nhà giáo, kẻ chỉ thích dạy và giảng, nhất là những
lời dạy và giảng ấy cứ lợn cợn và bốc mùi thoang thoảng của những thứ
kiến thức hoặc chưa tiêu hoặc cũ mèm.
Tôi biết,
loại trừ tất cả những tư cách lẫn lộn nhập nhằng ấy, chưa chắc người ta
đã trở thành một nhà văn thực sự bởi vì vẫn còn một sự nhập nhằng khác,
tế nhị hơn: sự nhập nhằng giữa những người còn đang hoạt động và những
người đã về hưu, phần nhiều là hưu non. Trong danh sách hội viên Hội Nhà
văn Việt Nam ở trong nước, có vô số người lâu lắm không hề viết lách
được gì cả. Ở ngoài nước cũng vậy. Hiện tượng sống dựa vào quỹ hưu
bổng... văn học như vậy kể cũng bình thường. Tuy nhiên, điều bất bình
hường là có quá nhiều người sống bám vào một thứ quỹ hưu bổng... ảo.
Người ta
thường lý luận danh hiệu là nhà văn (hay nhà thơ, v.v...) là thứ danh
hiệu muôn đời. Chỉ có nhà văn hay nhà thơ chứ không có cựu nhà văn hay
cựu nhà thơ. Ngay cả chữ "cố" cũng không cần thiết được đặt trước hai
chữ "văn sĩ" và "thi sĩ". Nguyễn Du, mất đã gần 200 năm rồi, vẫn là một
nhà thơ. Nguyễn Trãi, mất đã hơn 500 năm rồi, vẫn là một nhà thơ. Không
"cựu", không "cố" gì cả. Cũng đúng thôi: tác phẩm của họ còn đó thì mọi
chữ "cựu" và mọi chữ "cố" đều trở thành vô duyên. Có thể nói tác phẩm
của họ như một thứ quỹ hưu bổng vĩnh viễn đủ sức để duy trì cái danh
hiệu nhà thơ của họ.
Nhưng đó là
trường hợp của những người mà tác phẩm của họ còn tồn tại được với thời
gian. Những tác phẩm văn học thực sự. Nó khó có thể áp dụng với những
người in dăm ba cuốn sách và cuốn nào cũng bị thời gian chôn lấp một
cách nhanh chóng đến độ chính bản thân họ cũng không đủ can đảm bươi lên
để in lại dù diều kiện in ấn bây giờ cực kỳ dễ dàng. Những tác phẩm
không có hoặc có rất ít giá trị văn học như vậy, nói theo chữ nhà văn
Mai Thảo thường dùng lúc sinh thời, chỉ là những đồng tiền giả. Một thứ
quỹ hưu bổng được làm bằng những đồng tiền giả như vậy chỉ là một thứ
quỹ hưu bổng ảo. Sống bám vào một thứ quỹ hưu bổng ảo như vậy là một
cách ăn gian.
Vâng, tôi
biết, loại trừ tất cả những sự nhập nhằng ở trên cũng như loại trừ cả
trường hợp "ăn gian" vừa kể thì chưa chắc người ta đã trở thành nhà văn
thực sự. Tuy nhiên, tôi hy vọng là dù sao ít nhất nhờ đó sinh hoạt văn
học cũng đỡ xô bồ và nhếch nhác, văn hoá văn chương đỡ bị ô nhiễm phần
nào.
Tôi hy vọng
thế.
Và vì hy
vọng thế, cho nên mới viết bài này.
Nguyễn Hưng Quốc
17.3.2001
Chú thích:
-
Đăng
trên tạp chí Chủ Đề số 5,2001.
-
Xem thêm chương "Cuộc
hoà giải vô tận: khái niệm nhà thơ thời trung đại" trong cuốn Thơ,
v.v... và v.v... của Nguyễn Hưng Quốc,Văn Nghệ xuất bản, 1996, tr.
159-164.
-
Trong bài "Viết trong
tiếng súng" in lại trong tập Tạp Luận, nhà văn Võ Phiến có một số
nhận xét thú vị về nhà văn. Theo ông, "không có nhà văn". Lý do:
"Nhà văn, thực ra tiếng ấy chỉ thị chung những hạng người có những
hoạt động khác nhau rất xa, gần như không có gì liên quan với nhau.
[...] Cố tìm ra một cái gì nối liền các hoạt động cách biệt như thế,
có thể nêu lên cái nguyên liệu chung: chữ viết. Mọi nhà văn đều sử
dụng chữ viết. Nhưng đó bất quá cũng như kẻ đóng tàu chiến và người
thợ làm ra những chiếc đinh đóng guốc đều sử dụng một nguyên liệu
chung là sắt, vậy thôi."
-
Chữ "nhà văn cán
bộ" là chữ khá phổ biến ở Việt Nam từ thời đổi mới đến nay. Trong
bài "Văn nghệ và cuộc sống hôm nay" đăng trên tạp chí Tác Phẩm Mới
số 6 năm 1992, Lại Nguyên Ấn viết: "Nền văn học mà chúng ta có hiện
giờ, theo một nghĩa nào đó, chính là một nền văn học cán bộ (chữ
?nhà văn cán bộ? là tôi mượn của anh Vũ Tú Nam trong một lần anh gặp
gỡ các nhà nghiên cứu của Đại học Tổng hợp,...)."
-
Ví dụ rõ
nhất là bộ Nhà văn Việt Nam (1945-1975) gồm hai tập do Phan Cự Đệ và Hà
Minh Đức biên soạn (nxb Đại học & Trung học Chuyên nghiệp, 1979 & 1983).
Trong hai tập ấy, có 29 tác giả được phê bình; trong đó, có nhiều người
chỉ là những nhà chính trị, như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Đức Thọ,
Xuân Thuỷ, Hồng Chương, Xuân Trường; hoặc chủ yếu là những cán bộ văn
nghệ như Như Phong và Hoàng Trung Thông. Tuy nhiên, bộ sách vẫn bị Hà
Xuân Trường, nguyên là trưởng Ban văn hoá văn nghệ trung ương đảng chê
"có thiếu sót lớn là không giới thiệu chân dung một số lãnh đạo Đảng và
Nhà nước ta là những nhà lý luận đặt nền móng cho văn học dân tộc" (Hà
Xuân Trường, Văn học cuộc sống thời đại, Văn Học, Hà Nội, 1986, tr. 170)
-
Thật ra ảnh hưởng của
văn hoá hành chính còn lan cả ra sinh hoạt văn học hải ngoại. Biểu
hiện rõ rệt nhất là kiểu "tôn ti trật tự" phi văn học thường thấy
trên các tạp chí văn học hải ngoại: trong cách sắp xếp bài vở và
cách khen ngợi người này người nọ, v.v...
-
Ví dụ, xưa, trong
Truyện Kiều, tả Kim Trọng, Nguyễn Du viết: "Trông chừng thấy một văn
nhân / Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng..."; gần hơn, trong bài
"Chùa Hương", Nguyễn Nhược Pháp viết: "Em thấy một văn nhân/ Người
đâu thanh lạ thường / Tướng mạo trông phi thường/ Lưng cao dài trán
rộng/ Hỏi ai mà không thương?" Những chữ "văn nhân" ấy hoàn toàn
đồng nghĩa với chữ "thư sinh", nghĩa là học trò.