|
xuquang.com:
Tưởng Niệm: Danh
Nhân xứ Quảng
Gương
Tiết Liệt Tổng Đốc Hà Nội : Hoàng Diệu
Xuân Đài
Hoàng Hưng (cháu nội duy nhất hiện còn sống của Tổng Đốc Hoàng Diệu)

Ông Hoàng
Diệu tên chữ là Kim Tích, tự là Quang Viễn, hiệu Tỉnh
Trai, người làng Xuân Đài,
Quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam . Ông sinh ngày 10/02/1829, tức năm Kỷ Sửu trong
một gia đình nho học. Thân sinh ông là Hoàng Văn Cầm (1799-1856), thường gọi là
ông Hương Huệ, thân mẫu là bà Phạm Thị Khuê (1803-1892). Hai ông bà tần tảo làm
ruộng, nuôi tằm lo cho các con đi học. Các anh em ông Hoàng Diệu đều đỗ đạt
trong các kỳ khoa cử đầu Tự Đức: 1 Phó Bảng, 3 Cử
Nhân, 2 Tú Tài. Năm 16 tuổi,
ông Hoàng Diệu đã nổi tiếng văn tài . Năm 20 tuổi, trong một khoa thi ông đỗ Cử
Nhân cùng với anh ruột là ông Hoàng Kim Giám. Bài vở hai ông hơi giống
nhau,
khiến viên chủ khảo nghi ngờ trình lên Vua Tự Đức. Vua Tự Đức hạ chiếu cho các
quan giám khảo cho hai anh em ông Hoàng Diệu phúc hạch trong 3 ngày tại điện Cần
Chánh. Sau khi xem quyển (bài thi), Vua Tự Đức đã khen rằng:
"Văn chương là lẽ
công bằng. Hai anh em văn chương đều tuyệt tác, anh em đồng khoa thật là việc
tốt."
Vua Tự Đức ra câu đối:
"Nhứt mẫu song sinh, nan vi huynh nan vi đệ."
Ông
Hoàng Diệu ứng khẩu đối ngay:
"Thiên tải kỳ ngộ, hữu thị quân hữu thị thần"
Năm
25 tuổi, trong khoa thi Hội 1851 ông đổ Phó Bảng. Ông được bổ làm Tri Phủ Tuy
Viễn (Bình Định) năm 1851. Do việc lầm lẫn án từ bị giáng chức đổi về huyện
Hương Trà (Thừa Thiên). Sau được phục chức Tri Phủ, đổi ra Phủ Đa Phúc
(Phúc Yên), Lạng Giang (Bắc Giang), rồi thăng làm giám sát tỉnh Nam Định, rồi Bố Chánh
tỉnh Bắc Ninh . Trong thời gian đó, ông lập được nhiều công trong việc dẹp trộm
cướp, an dân lành, được Vua Tự Đức ban khen rằng:"Chăm lo cho dân Bắc
Hà, ngoài
Hoàng Diệu ra không ai hơn". Suốt đời làm quan ông nổi tiếng là người thanh liêm
thẳng thắn, hết lòng vì dân vì nước. Dân thời ấy thường truyền tụng rằng đời
riêng ông hết sức thanh bạch, trong nhà không có tiền bạc, và với ông không có
ai dám đến cửa công để kêu xin việc tư .
Năm 1873 ông được triệu về kinh đô
Huế giữ chức Tham Tri Bộ Hình rồi Tham Tri Bộ Lại, kiêm Đô Sát
Viên, dự bàn
những việc ở Viện Cơ Mật. Năm 1878 đanh làm Tổng Đốc An Tĩnh
(Nghệ An-Hà Tĩnh),
ông được triệu về kinh sung chức Phó Toàn Quyền Đại Thần đàm phán với Sứ Thần Y
Pha Nho, rồi thăng làm Thượng Thơ Bộ Binh . Khi tình hình Bắc Kỳ căng thẳng, Vua
Tự Đức giao phó cho ông vùng trọng yếu Hà Nội, Hải Phòng . Vua Tự Đức còn ban
thưởng cho mẹ già đã 80 tuổi một số
sâm, quế và gấm vóc. Cảm động trước đặc ân
đó, ông viết bài biểu có câu:"Phận con chưa báo, ơn mẹ mang thêm; Việc nước chưa
xong, việc nhà đâu tưởng". Trước khi nhận trọng trách Tổng Đốc Hà
Ninh, ông xin
về quê thăm mẹ già ở làng Xuân Đài, tỉnh Quảng Nam . Sau đó ông đến làng Đông
Bàn thăm cụ Thượng Phạm Phú Thứ và hội đàm về tình hình khó khăn về thời cuộc
hiện tại suốt một buổi sáng. Hai ông dùng cơm trưa
xong, cả hai ông lại nhau từ
biệt. Sau nầy người ta mới hiểu là hai ông lại nhau làm hàm ý vĩnh viễn không
bao giờ gặp lại nhau . Sau khi nhậm chức Tổng Đốc Hà
Ninh, trong khi đi xem xét
địa thế chung quanh các vùng lân cận, ông có sáng tác một bài thơ:
Quá Giang
Tức Cảnh Quá bước tìm phương bỗng tới đây Khen cho tạo khéo trưng
bày Sông e biển cạn bù thêm nước Núi sợ trời nghiêng đỡ lấy mây Rạt rạt
sóng cồn che mặt nước Ào ào gió thổi chôùn rừng xanh Nữa về nữa ở
lòng không nở Ngán nổi trời chiều bóng xế tây
Với trọng trách trấn giữ Hà
Ninh, ông ý thức được những khó khăn vô bờ bến. Năm 1882 thấy binh thuyền nước
Pháp tự nhiên ra Bắc, ông làm nghi kỵ lắm. Một mặt ông phái Tuần Phủ Hoàng Hữu
Xứng ra tiếp, mặt khác ông lo chỉnh đốn lại thành trì và quân ngũ để đề phòng.
Lấy cớ ta không tôn trọng hiệp ước năm 1874 mà lại đi giao thiệp với Trung
Hoa,
dung túng quân Cờ Đen ngăn trở việc giao thông trên sông Hồng Hà và cấm đạo,
Thống Đốc Hải Quân Pháp, Đại tá Henri Rivière cho mấy tàu chiến cùng 4000 quân
ra đóng tại Đồn Thủy (trên bờ sông Hồng Hà phía Đông nằm sát Hà Nội) và cho quân
lính đi hoành hành phá rối và hăm dọa trên các đường phố. Trước đó ông Hoàng
Diệu đã dâng sớ lên Vua Tự Đức đề nghị việc phòng chống giặc, vì theo ông Hà Nội
là yết hầu của Bắc Kỳ và cũng là nơi then chốt của nước ta . Nếu Hà Nội mất thì
các tỉnh khác sẽ mất theo, nhưng Vua Tự Đức làm thinh . Đến khi Hà Nội bị uy
hiếp, ông Hoàng Diệu một mặt xin triều đình Huế viện
binh, một mặt ra lệnh giới
nghiêm và thông báo các tỉnh đề phòng. Trong khi Hà Nội ở trong tình thế dầu sôi
lữa bỏng thì phái chủ bại ở triều đình Huế đề nghị mở cửa thành cho quân Pháp ra
vào tự do và triệt binh để người Pháp khỏi nghi ngờ . Ngay cả Vua Tự Đức cũng hạ
chiếu quở trách ông đã đem binh dọa giặc và chế ngự sai đường. Nhưng ông Hoàng
Diệu đã quyết tâm sống chết với thành. Các quan xung quanh ông Hoàng Diệu lúc
bấy giờ có Tuần Phủ Hoàng Hữu Xung, Đề Đốc Lê Văn Trinh, Bố Chánh Phan Văn
Tuyển, Án Sát Tôn Thức Bá, và lãnh binh Lê Trực đã cùng nhau uống rượu hòa máu
tỏ quyết tâm sống chết với thành .
Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882, tức
ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhăm Ngọ, Henri Rivière sai thông dịch viên đưa tối hậu
thư vào thành cho ông Hoàng Diệu, buộc ông phải cho quân lính rời khỏi thành sau
khi hạ hết khí giới và mở cửa thành, ông cùngcác quan phải ra nộp mình cho hắn .
Theo bản Corresponance politique du Commanant Henri Riviere au Tonkin của André
Masson thì Henri Riviere buộc "Ðúng 8 giờ sáng ngài phải thân hành đến dinh tôi
hàng phục, có mặt đông đủ các quan Tuần Phủ, Bố
Chánh, Án sát, Đề Đốc, Chánh,
Phó Lãnh Binh . Nếu đúng 8 giờ, Ngài và toàn thể thuộc viên của Ngài không đến
Lãnh sự quán để tỏ vẻ chấp thuận những điều kiện của tôi, thì quân đội của tôi
lập tức tấn công vào thành . . ."
Henri Rivière không chờ thư trả lời, cho tàu
chiến bắn vào thành rồi cho quân tiến lên. Tôn Thất Bá xin ra ngoài thành để
giao thiệp với địch một lần cuối . Bắc thang leo ra khỏi thành, Bá liền cho giặc
biết cách bố trí của ta để giặc nổ súng . Rồi một mặt Bá dâng sớ lên Vua Tự Đức
đổ tội cho Hoàng Diệu, một mặt xin với giặc cho Bá thay làm Tổng Đốc Hà Ninh Một
trận kịch chiến xảy ra từ sáng đến trưa. Quân ta dưới quyền chỉ huy của ông
Hoàng Diệu đã anh dũng chiến đấu giết hàng trăm tên giặc:
"Lữa phun súng phát
tứ bề Khiến loài bạch quỷ hồn lìa phách xiêu Bắn ra thôi chết đã
nhiều Phố phường nghe thấy tiếng reo ầm ầm Quan quân đắc chí bình
tâm Cửa đông thành bắc vẫn cầm vững binh Chém cha cái lũ hôi tanh Phen
này quét sạch sành sanh mới là . . ." (trích Chính Khí Ca)
Cuộc chiến đấu
diễn ra ác liệt gây cho địch nhiều thiệt hại, thì thình lình kho thuốc súng nổ,
lửa bốc cháy ngùn ngụt . Đám cháy càng lan rộng, hàng ngũ chiến đấu càng hoang
mang, quân giặc thừa cơ bắt thang trèo vào, phá cổng thành phía tây rồi ồ ạt kéo
vào như nước chảy
"Nào ngờ thất ý tại ta Rõ ràng thắng trận thế mà thua
cơ Nội công phản tử bao giờ Thấy kho thuốc cháy ngọn cờ ngã theo . .
." (trích Chính Khí Ca)
Bố Chánh Phan Văn Tuyển thấy thành lâm nguy bỏ
chạy trước; Đề Đốc Lê Văn Trinh giả vờ tự tử; Phó Lãnh Binh Lê Trực ở cửa tây
cũng tháo lui; Tuần Phủ Hoàng Hữu Xứng bị Pháp bắt, nhịn ăn mấy bữa rồi ăn lại
như thường . Duy chỉ có Thủy Sư Đề Đốc Nguyễn Đình Kháng liều chết cố thủ ở cửa
thành phía nam cho đến giây phút cuối cùng . Riêng ông Hoàng Diệu tuy thế cô
nhưng không bao giờ nao núng trước làn súng đạn tuôn như mưa bão, trước những
tiếng vang rền như sấm động, trước cảnh tàn khốc của một kinh thành sắp mất, ông
vẫn hăng hái tiến lên cùng với toán quân còn lại xông xáo chém giết quân thù .
Sau một cuộc chiến đấu nhưng vô vọng, quân ta dần tan rã . Trong vòng khói lửa
ngợp trời ấy, ông Hoàng Diệu đi về dinh, nai nịt gọn gàng, mặc chiếc áo the
thâm, tấm khăn nhiễu xanh chít lên đầu, và dải dây lưng nhiễu hồng thắt ra áo
ngoài, tay cầm thanh kiếm tuốt trần, rồi lên mình voi xông trong mưa đạn tiến
vào thành cung . Tại đây ông truyền lịnh:"Ai muốn về kinh thì về, còn ai muốn
chiến đấu nữa thì lên Sơn Tây tập hợp với đại binh của Hoàng Kế Viêm chờ ngày
báo phục". Khi mọi người giải tán, ông vào dinh viết bài di biểu tạ tội, rồi
quay ra đi thẳng đến cửa Võ Miếu lật chiếc khăn đang bịt trên đầu treo mình lên
cành cây trước Miếu mà tuẫn tiết đúng vào giờ Ngọ, tức ngày 25 tháng 4 năm 1882.
Ông thọ 54 tuổi .
Mặc dầu Vua Tự Đức đã làm chậm trễ cho việc chuẩn bị kháng
chiến vì đã nghe theo lời một số quan lại chủ bại tại triều đình Huế . Ông Hoàng
Diệu vẫn quyết tâm bảo vệ thành trì và chết theo thành . Bài Chính Khí Ca của
ông Nguyễn Văn Giai (Ba Giai) đã diễn tả cái thế quyết tâm bảo vệ thành trì của
quân dân trong thành . Nếu có viện binh kịp thời và không có bàn tay phản động
đốt kho súng và chỉ điểm cho giặc của một số người phản bội, thì thành Hà Nội
chưa dễ gì bị hạ mau chóng . Trước cái chết khí tiết của Hoàng Diệu, các giới
sĩ phu, văn thân và nhân dân Bắc Hà và cả nước khâm phục thương tiếc . Tôn Thất
Thuyết, một đại biểu nổi tiếng của sĩ phu kiên quyết chống Pháp đã ca ngợi ông
Hoàng Diệu trong hai câu đối:
"Nhất cử thành
danh, tự cổ anh hùng phi sở
nguyện Bình sanh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô
tâm"
Dịch:
"Một chết đã thành
danh, đâu phải anh hùng từng nguyện
trước Bình sanh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm
."
Trong bài Chính Khí Ca, Ba Giai đã hết lòng khen ngợi và thương tiếc Ngài
qua các câu thơ:
"Chữ trung còn chút con con Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc
cây Trời cao, bể rộng, đất dày Núi Nùng, Sông Nhị chốn này mà
ghi Thương thay trong buổi truân nguy Lòng riêng ai chẳng thương về người
trung Rủ nhau tiền góp của chung Đem người ra táng ở trong Học
đường"
Vua Tự Đức mặc dầu không ủng hộ ông Hoàng Diệu trong việc chống đối
với quân Pháp tại thành Hà Nội, vẫn phải hạ chiếu khen ông Hoàng Diệu đã tận
trung tử tiết, sai quân tỉnh Quảng Nam làm lễ quốc táng . Sĩ phu Hà Thành lập
đền thờ ông ở phố Văn Tân, sau thờ chung với ông Nguyễn Trí Phương trong đền
Trung Liệt trên gò Đống Đa với đôi câu đối:
"Thử thành
quách, thử giang
sơn Bách chiến phong trần dư xích địa Vi nhật
tinh, vi hà nhạc Thập
niên tâm sự vọng thanh thiên"
Dịch:
"Kìa thành
quách, kìa non sông Trăm
trận phong trần trơ đất đỏ Là trời
sao, là sông núi Mười năm tâm sự thấu
trời xanh".
Back to Top
|