Trong lịch sử có những
tráng sĩ, danh tướng ngẫu nhiên làm một vài bài thợ Thơ
của họ được người đời sau biết đến là nhờ danh
tiếng của họ lưu trong lịch sử. Lý Thường Kiệt, Trần
Quang Khải, Trần Khánh Dư nằm trong trường hợp nàỵ
Nói đến Lý Thường Kiệt người ta nhắc tới bài thơ có
câu "Nam quốc sơn hà Nam đế cư". Nói tới Trần
Quang Khải người ta kể "Đoạt sáo Chương Dương độ".
Và nói tới Trần Khánh Dư người ta đề cập tới bài Bán
Than. Đó là trường hợp từ danh của tướng người ta liên
tưởng tới thơ của họ. Trường hợp của Đặng Dung ngược
lại: từ thơ người ta liên tưởng tới cuộc đời của ông.
Đặng Dung làm thơ nhiều hay ít không rõ, chỉ biết ông có
một bài duy nhất được lưu lại, đó là bài Cảm Hoài
(hay Thuật Hoài). Với bài này tên ông đã có chỗ đứng
trong văn học sử, và người đời sau khi đọc bài thơ không
thể không khen cái hay của nó. Yêu thơ, muốn tìm hiểu thêm
về tâm sự và cuộc đời tác gỉa, người ta sẽ thích thú
khi biết rằng ông là một nhà ái quốc tuyệt vời, một dũng
tướng can trường, một nhân kiệt hiếm có, một tráng sĩ
hiên ngang, khí phách sống vào thời Trần mạt. Bài Cảm Hoài
của ông nguyên tác bằng chữ Hán, phiên âm như sau:
Thế sự du du nại lão
hà, (*)
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca, (*)
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đạ (*) (1)
Trí chúa hữu hoài phù địa trục, (*)
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà, (3)
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch ,(*) (2)
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt mạ
Lý Tử Tấn, một học gỉa thời Lê, tác gỉa Chuyết Am Văn
Tập, khi đọc bài thơ này đã hết lời ca tụng người sáng
tác ra nó là "phi hào kiệt chi sĩ bất năng" (không
phải là kẻ sĩ hào kiệt thì không thể sáng tác được như
vậy).
Ta hãy lược qua thân thế
của tác gỉa để có thêm chất liệu soi sáng thêm cho
phần thưởng thức bài thợ Đặng Dung sinh và mất năm nào
không rõ, chỉ biết ông là người làng Tả Thiên Lộc,
huyện Can Lộc, tỉnh Nghệ Tĩnh. Thân phụ ông là Đặng
Tất làm quan triều Trần. Khi quân Minh do Trương Phụ thống
lãnh chiếm nước ta, năm 1407 Đặng Tất cùng đồng liêu là
Nguyễn Cảnh Chân theo giúp Giản Định Đế chống quân
Minh. Nhưng Giản Định Đế nghe lời xiểm nịnh giết cả
Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất. Đặng Dung và Nguyễn
Cảnh Dị, con Nguyễn Cảnh Chân, vì đại cuộc quên thù nhà,
đem quân từ Thuận Hóa về Thanh Hóa, tôn Trần Qúy Khoáng lên
làm vua, đó là Trùng Quang Đế, để tiếp tục sự nghiệp
chống Minh. Chiến công đáng ghi nhớ nhất trong đời ông là
đánh úp doanh trại quân Minh trong một đêm của tháng 9, năm
1413. Ông và một vị tướng khác là Nguyễn Suý cầm đầu
một toán quân xung kích nhảy lên thuyền tướng giặc, tính
bắt sống, nhưng nhờ đêm tối Trương Phụ đã thoát
hiểm.
Thời Trần mạt, tráng sĩ,
nghĩa sĩ khá đông, ngoài cha con ông, và cha con Nguyễn Cảnh
Dị còn có kẻ sĩ can tràng Nguyễn Biểu, dũng sĩ hiên ngang
Nguyễn Suý, v.v.. nhưng vì nghiệp nhà Trần đã hết, vận nước
gặp hồi điêu linh, nên tất các cuộc khởi nghĩa chống quân
thù đều thất bại, và bao nhiêu kiệt sĩ đã phải ngậm
đắng nuốt cay vì vận mạt. Sau khi cuộc kháng chiến thất
bại, vua Trùng Quang và các tướng tá bị bắt, có sách ghi
là ông ở trong đám người bị bắt đó. Trên đường bị
giải về Yên Kinh ông và vua Trùng Quang đã nhảy xuống sông
tự vẫn.
Bây giờ chúng ta lắng
nghe Đặng Dung dãi bầy nỗi cảm hoài qua 8 câu thơ của ông
:
1- Việc đời còn dằng
dặc mà mình đã già mất rồi,
2- (vậy nên) đất trời mênh
mông thu lại là một cuộc say hát (mà thôi).
3 - Gặp thời bọn giết
heo, bọn câu cá cũng thành công dễ,
4- (nhưng) lỡ vận thì anh
hùng cũng đành nuốt hận nhiều (2).
5- Giúp chúa có lòng đỡ
trục trái đất,
6- (nhưng tiếc rằng) rửa
binh không có đường kéo sông trời (3).
7 - Nợ nước chưa báo
được đầu đã sớm bạc,
8- (đáng tiếc thay) đã
bao phen mài gươm Long Tuyền dưới ánh trăng.
Bài thơ mở ra bằng cái
bi phẫn của thi-nhân-tráng-sĩ, ngao ngán vì việc đời còn
ngổn ngang mà tuổi đã xế chiềụ Bi phẫn đó dẫn đến
lời ngậm ngùi: trời đất mênh mông rút lại không chừng
chỉ còn là một cuộc say hát nghêu ngaọ Ta bắt gặp ý
niệm tương tự nơi Tiêu Sơn Tráng Sĩ thời Lê mạt. Khi
cuộc phục Lê đã vô vọng, tình yêu với Trương Quỳnh Như
không thành, Chiêu Lì Phạm Thái đã trốn vào rượu, suốt
ngày ngâm câu "Chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy
một hồ rượu, không đong đầy đôi mắt mỹ nhân".
Rồi từ nỗi chán chường
đó thi nhân tự tìm an ủi trong triết lý về thời và
vận, đầy chua cay nhưng không kém ngạo nghễ: "Thời
lai đồ điếu thành công dị, vận khứ anh hùng ẩm hận đa!"
Coi thường Phàn Khoái (dũng tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang
vốn làm nghề giết heo - đồ là kẻ giết heo ) nghe còn
tạm xuôi nhưng khinh thị Hàn Tín (đại nguyên soái của Hán
Cao Tổ, khi hàn vi là anh đi câu cá kiếm ăn - điếu là đi
câu cá) thì thật qúa đáng. Bởi Hàn Tín là một đại tướng
lừng danh của lịch sử Trung Quốc, một trong mấy hào
kiệt đã giúp chúa dựng nên đế nghiệp vẻ vang. Nhưng
tại sao đọc hai câu thơ này ta không thấy chướng tai, mà
lại thấy lời thơ hùng tráng và ý tứ ngậm ngùi- Bởi vì
Đặng Dung là một tráng sĩ ... thất bại, nhất là thất
bại trong sứ mạng phục quốc. Người ta thường chỉ chê
những kẻ công thành, danh toại mà có những lời ngạo
mạn, nhưng lại thông cảm và thích thú với lời ngạo
nghễ, khinh bạc của những kẻ có chí, có tài nhưng lỡ
thời, lỡ vận. Bài thơ được nhiều người ưa thích, và
truyền lại cho hậu thế một phần có thể là nhờ hai câu
thơ hùng tráng và đầy ngạo nghễ nàỵ Đối với những hào
kiệt lỡ vận nó là một lời an ủi thấm thía, một phản
ảnh tâm lý tuyệt vờị Suốt dòng lịch sử đấu tranh
của dân tộc ta, biết bao nhiêu anh hùng đã lỡ vận, đã có
tâm sự bi phẫn giống như tâm sự của người tráng sĩ làng
Thiên Lộc, khi đọc hai câu thơ này chắc là họ sẽ thấy
thấm lắm.
Nếu bốn câu đầu của bài
thơ phản ảnh suy tư và triết lý thời vận của nhà thơ
thì bốn câu sau phản ảnh tâm sự và tấm lòng của ông đối
với dân, với nước. Người hào kiệt ấy dốc lòng nhận
trách nhiệm, sẵn sàng ghé vai khiêng trái đất, kéo sông
trời mà gột giáp binh để đem độc lập về cho đất nước,
mang thanh bình lại cho muôn ngườị Bao phen mài gươm kiên
nhẫn đợi chờ mà thời vẫn chẳng chiềụ Bài thơ khép
lại bằng hình ảnh của một bạch đầu tráng-sĩ dưới
nguyệt mài gươm đầy thơ mộng, hào hùng, và lồng lộng
một tấm lòng phục quốc khôn nguôi. Đem tiểu sử soi
chiếu vào thơ, người ta càng thêm cảm phục tấm lòng
của kẻ đã vì nợ nước coi nhẹ thù nhà, đã tận tụy
với quê hương cho tới khi lâm tử. Bài thơ của ông qủa
thật tuyệt vời cả ý lẫn lời.
* Ngoài một số bài thơ
Đường, có lẽ Cảm Hoài của Đặng Dung là bài thơ chữ Hán
có nhiều người dịch nhất. Vì sự hạn hẹp của ngôn
ngữ và sự phong phú của thơ, người dịch khó lòng
chuyển được hết ý quấn quýt, tứ súc tích, lời hào hùng,
khí ngạo nghễ, hồn lồng lộng của bài thơ.
Ba chữ "nại lão hà"
ở cuối câu 1 nửa như lời tự hỏi đầy ngao ngán: gìa
rồi ư ? già mất rồi ử. Nửa như trách móc thời gian: sao
vội bắt gìa! (nại hà: làm sao, thế sao, nài nỉ sao). Về
ba chữ "nhập hàm ca" ở cuối câu 2, nếu hiểu hàm
và ca tách biệt nhau thì ý thơ thành ra: rút lại chỉ còn là
say sưa và ca hát (nghêu ngao); nếu hiểu hàm giúp nghĩa cho
ca thì ý thơ có thể hiểu là: rút lại chỉ còn là cuộc hát
say sưa, mê mải (cho quên chuyện đời) . Sâu kín trong hồn
của hai câu thơ là cái triết lý: với khoảng đời sống
trong thời gian vô tận (thế sự du du) và không gian không
bờ (thiên địa vô cùng) con người sẽ khó thực hiện được
hoài bão lớn lao.
Hai câu 3 và 4 tương đối
dễ dịch nghĩa nhưng lột được cái khí ngạo nghễ của
tứ, và điệu mạnh mẽ của lời lại không dễ. Hai chữ
"đồ điếu" vừa khinh bạc (bọn hèn kém giết heo,
câu cá), vừa ngạo nghễ (những thứ như Phàn Khoái, Hàn Tín)
giữ nguyên được ý thì lời không được sáng rõ, mà thoát
dịch cho được lời rõ thì khó mà gồm được cả hai ý.
Sự khó khăn trong việc dịch 2 câu thơ này là ở chỗ đó.
Và trên thực tế chưa có ai dịch được cả ý lẫnn lời
của hai câu này một cách thành công hoàn toàn.
Trong câu 5 "phù địa
trục" được dùng thật gợi hình và lạ lùng. Gợi hình
vì hình ảnh một tráng sĩ ghé vai khiêng trái đất làm ta
liên tưởng tới cái ý vừa chấp nhận trọng trách nặng
nề, vừa tận tụy thi hành. Lạ lùng vì địa trục gây cho
ta ấn tượng trái đất hình cầu trong khi ở đầu thế
kỷ 15 người ta chưa biết được trái đất hình cầu,
vậy hẳn là Đặng Dung cũng chưa biết, không hiểu tại sao
ông lại dùng được hai chữ đó- Địa trục lại đối
chọi một cách thú vị với thiên hà ở câu dưới. Câu 6
tứ thơ khó chuyển vì điển tích "vãn thiên hà" và
từ "binh" để chỉ binh khí . Ý sâu kín trong hai câu
thơ là tấm lòng của ông đối với nước (câu 5), và hoài
bão của ông mong đem thanh bình đến cho dân (câu 6), cho nên
dịch được cả ý và lời của hai câu 5, 6 này rất khó.
Khó không kém gì câu 3 và câu 4 ở trên, có phần khó hơn vì
cai ý ẩn sâu mà người đọc thơ phải? đào kỹ mới
thấỵ
Gợi hình nhất của bài
thơ là hai câu cuối, đúng là thi trung hữu họạ Rất
nhiều người sẽ yêu hai câu thơ này vì hình ảnh hào hùng
của của một tráng sĩ bạc đầu vẫn kiên gan mài kiếm dưới
trăng. Nó rực rỡ hơn nhiều hình ảnh Tôn Thất Thuyết
ngồi cầm gươm chém đá trong những ngày tàn của cuộc đờị
Nó tuyệt vời hơn nhiều hình ảnh một thi sĩ Cao Tần vác
thanh kiếm gẫy lên non vạch đất nhớ quê hương.
Bài thơ, về khía cạnh riêng,
phản ảnh hoàn cảnh, tâm sự và hoài bão của tác gỉa, nó
gây cảm ứng đồng điệu nơi người đọc. Về khía cạnh
chung nó làm rung động sâu xa mỹ cảm nơi người đọc vì
hình ảnh và nhạc điệu phong phú của nó.
Vì bài thơ có qúa nhiều
ưu điểm nên người ta khó lòng dịch được hết cái haỵ
Để thưởng thức trọn vẹn bài thơ, có lẽ ta nên đọc
va thưởng thức thẳng vào nguyên tác. Tuy nhiên ở đây chúng
tôi cũng xin chép lại mấy bản dịch đã sưu tầm được,
và chúng tôi cũng dịch một bản, hy vọng những bản dịch
này sẽ gây thêm hứng vị cho độc gỉa.
* 1. Bản dịch của Phan
Kế Bính, trích trong VN Sử Lược của Trần Trọng Kim
Việc đời bối rối
tuổi gìa vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say,
Bần tiện
gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng caỵ
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó
vạch mâỵ
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng
nguyệt biết bao ràỵ
2. Bản dịch trong Việt
Nam Nhân Vật Chí Vựng Biên của Hồ Đắc Hàm và Thái Văn
Kiểm
Tuổi về gìa, phải thời
bối rối,
Cả đất trời một hội mê say,
Gặp thời kẻ
dở nên hay,
Anh hùng lỡ vận, đắng cay trăm phần.
Lòng
cứu chúa muốn vần trái đất,
Gột giáp binh khôn dắt sông trời.
Thù còn đầu đã bạc rồi,
Mấy phen dưới nguyệt
chuốt mài lưỡi gươm.
3. Bản dịch của Phan Võ
Việc thế lôi thối tuổi
tác này,
Mênh mông trời đất hát và say,
Gặp thời đồ điếu
thừa nên việc,
Lỡ vận anh hùng luống nuốt caỵ
Giúp chúa
những lăm giằng cốt đất,
Rửa dòng không thể vén sông mâỵ
Quốc thù chưa trả già sao vội,
Dưới nguyệt mài gươm đã
bấy chầỵ
4.Bản dịch của Đào
Hữu Dương
Tuổi gìa lận đận nỗi
tình đời,
Vô tận vần xoay khoảng đất trời,
Ti tiện
gặp thời lên chẳng khó,
Anh hùng lỡ bước hận nhiều thôi.
Vác non phò chúa trên vai nặng,
Gột giáp qua mây mặt nước
trôi
Thù nước chưa xong đầu sớm bạc,
Dưới trăng mài
kiếm mấy thu rồi.
5. Bản dịch của Vũ Hải
Tiêu
Thế cuộc mênh mang tuổi
sớm gìa,
Đất trời thu lại chỉ say ca,
Gặp thời đồ điếu
thành công dễ
Lỡ vận anh hùng nuốt hận đa.
Giúp chúa
những mong nâng địa trục,
Rửa binh không lối kéo thiên hà.
Quốc thù chưa trả đầu mau bạc,
Bao độ mài gươm dưới
nguyệt tà.
6. Bản dịch của Tản Đà
Nguyễn Khắc Hiếu
Việc đời man mác, tuổi
già thôi!
Ðất rộng trời cao chén ngậm ngùi
Gặp gỡ
thời cơ may những kẻ
Tan tành sự thế luống cay ai !
Phò
vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch
trời.
Đầu bạc giang san thù chửa trả,
Long tuyền mấy độ
bóng trăng soi.
7. Bản dịch của Thiện
Nhân Nguyễn Khánh Do
Thế sự ngổn ngang tuổi
luống rồi,
Đất trời thu lại hát say thôi,
Anh hùng nuốt
đắng khi tàn vận,
Đồ điếu nên công lúc gặp thời.
Giúp
chúa rắp tâm nâng trái đất,
Rửa binh khôn lối kéo sông
trời.
Quốc thù chưa báo đầu mau bạc,
Bao độ gươm mài bóng
nguyệt soi.