![]() |
xuquang.com:
Tưởng Niệm: Danh
Nhân xứ Quảng (1856-1908)
Châu Thượng Văn hiệu Thơ Đồng, người làng Minh Hương
(Hội An). Tổ tiên ba đời của ông là người Trung Hoa, trung
thành với nhà Minh, không chịu sống dưới chính quyền Mãn
Thanh, đã vượt biển sang Việt Nam, được chúa Nguyễn cho cư
ngụ ở Hội An, Quảng Nam. Nhờ hưởng tổ phụ, gia cư ông vào
hạng giàu có.
Nếu trước đây tổ tiên của ông căm thù người Mãn áp
bức, phải rời bỏ quê hương ra đi, thì nay, ông căm thù
bọn thực dân Pháp đem quân xâm lướt dày xéo lên đất nước
Việt Nam,đất nước đã dang tay đón nhận và đùm bọc tổ
tiên ông. Đối với ông, Việt Nam đã là Tổ quốc thiêng liêng.
Làng Minh Hương, phố Hội An, nơi ông chào đời và lớn lên,
là quê hương yêu dấu. Đất nước và quê hương này đã nuôi
nấng và hình thành nhân cách của ông. Ông sống, chiến đấu
và nếu cần thì hy sinh cả tài sản, tính mạng đê bảo vệ
nó. Tinh thần yêu nước thiết tha ấy của Châu Thượng Văn
đã biểu lộ trong bài " Ngục trung thư".
Ông Tôn Quang Phiệt dịch bài thơ ấy như sau:
Trong tù hòa lệ viết thư,
Thênh thang trước gió giận chưa nguôi lòng. Đúng vào năm ông chào đời (1856) bọn thực dân Pháp đã
nổ súng vào Đà Nẵng để đe dọa và thị uy. Chỉ hai năm
sau (1858), chúng đã gạt bỏ chính sách"ngoại giao pháo
hạm" và thực sự dùng sức mạnh để xâm chiếm đất nước
ta. Dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Tri Phương tiếng súng
chống xâm lược nổ giòn ở Đà Nẵng.
Hội An với "Đại dường nhai", với chùa chiền và
hội quán, với cầu Nhật Bản... đã từng là một trung tâm
buôn bán hưng thịnh bậc nhất của Đàng Trong. Hội An thông
với Đà Nẵng bằng sông Cổ Cò (mới bị lấp vào đầu
thế kỷ này) chảy ngang qua Ngũ Hành Sơn. Dù Đà Nẵng là
chỗ tàu bè ngoại quốc cập bến song lúc bấy giờ nó vẫn
chỉ đóng vai trò tiền cảng cho Hội An về mặt thương mại
Súng đã nổ ở Vũng Thùng, đất nước đã không yên và
Hội An do đó, cũng chẳng còn yên ổn nữa. Châu Thượng Văn
lớn lên chỉ để nghe tin hết phần đất này đến phần đất
khác bị giặc Pháp xâm chiếm. Ông căm ghét bọn giặc. Súng
của phe chủ chiến ở triều đình đã nổ ở kinh thành
Huế. Phong trào Cần Vương dậy lên khắp cả nước. Ông Hường
Hiệu, quê ở Thanh Hà mà! Ông vốn quen biết, cũng đã cùng
với Tiểu La Nguyễn Thành (cũng là bạn ông), Trần Văn Dự..
dựng cờ khởi nghĩa, thành lập Nghĩa hội, mỗi người một
cách, đóng góp vào cuộc chiến đấụ Nhờ gia sản của tổ
phụ để lại, ông thường xuyên đem tiền của giúp Nguyễn
Duy Hiệu Ông không làm người bàng quang, chỉ lo làm ăn buôn
bán khi đất nước bị "cường quyền che lấp cả mặt
trời"!
Nhưng rồi Nguyễn Huy Hiệu hy sinh ở pháp trường Huế,
Phan Bá Phiến tuẫn tiết ở Hà My, lực lượng Nghĩa hội tan
vỡ, nhân dân Quảng Nam rên xiết dưới chính sách khủng
bố, đàn áp và bóc lột của thực dân Pháp. Ông cũng đau cái
đau của người dân mất nước. Bọn Pháp và tay sai, tuy ghét
ông, nhưng trong sổ sách quyên góp của Nghĩa hội mà chúng
thu được không có tên ông nên chúng chưa có cớ để bắt
ông.
Châu Thượng Văn vẫn ngầm liên lạc với người bạn
thiết của ông là Tiểu La, một kiện tướng của Nghĩa hội
Cần Vương nay về giấu chí, làm ruộng nuôi mẹ.Đầu thế
kỷ 20, qua Tiểu La, Phan Bội Châu đã tìm đến Hội An để
gặp ông. Ông khiêm tốn phát biểu: “tôi già rồi, không làm
gì được nữa và xưa nay tôi cũng không làm gì. Việc các ông
làm là đúng. Khi nào cần tiền thì tôi tuy gia nghiệp đã nghèo
cũng xin đem giúp các ông hết” (Việt Nam nghĩa liệt sử).
Đó chỉ là cách nói, vì sau đó ông đã trở thành một
hội viên trọng yếu của hội Duy Tân. Phan Bội châu ghi lại
trong tự phán: “Thượng tuần tháng chạp Giáp Thìn (1-1905),
tôi cùng ông Ngư, Hải, ông Tử Kính với nhà Tiểu La nhóm
mật hữu ba bốn người như các ông Trình Ô Gia, tôn Thất
Toại, Châu Thơ Đồng thương định nhũng kế hoạch, chia đường
làm việc”.Cuộc họp hôm ấy chính là buổi họp quan trọng
của hội Duy Tân trước khi Phan Bội Châu ra nước ngoài.
Muốn giúp lộ phí cho Phan Bội Châu nhưng nhà không sẵn
tiền, Châu Thượng Văn mang văn khế nhà đất đi cầm được
350 đồng, tàng tát cả cho Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ. Cũng
từ đó, ngôi nhà của ông ở ngay giữa phố Hội An trở thành
nơi tiếp đón các đồng chí, các nhân sĩ Nam Bắc, mỗi lần
ghé lại xứ Quảng. Nhà ông còn là hộp thư bí mật liên
lạc với bên ngoài của hội Duy Tân. Thư từ ở bên ngoài bí
mật gởi về cho Tiểu La đều qua tay ông chuyển đạt. Đầu
thế kỷ, qua các tàu buôn Trung Quốc, các loại sách mới đã
"cập bến" Hội An. Có lẽ con đường liên lạc này
cũng khá quan trọng đối với phong trào Đông Du và vì thế
Hội An trở thành một cứ điểm quan trọng cho cả hai phong
trào yêu nước lúc bấy gìờ. Cứ xem khí thế của phong trào
chống sưu thế (1908) ở Hội An thì đủ rõ.
Bọn thực dân và tay sai khiếp sợ trước tinh thần đứng
dậy của nhân dân. Chúng bắt ông, buột tội ông là âm mưu
phiến loạn. Ông bị giam ở nhà lao Hội An rồi sau đó
chuyển về nhà lao tỉnh (Điện Bàn). Trước mặt bọn thực
dân và tay sai, ông khẳng khái thừa nhận: "Người nước
Nam sang Nhật Bản và hạt dân xin thuế, chính tôi là người
chủ mưu, khoảng ai dám dự vào cả.".
Ông đã có chủ định riêng nên ngay từ hôm vào ngục, Châu
Thượng Văn bắt đầu tuyệt thực, mỗi ngày chỉ uống mấy
chén nước trà loãng do người nhà mang vào.
Tòa án tỉnh của Nam triều kết án ông tù chung thân, đày
đi Lao Bảọ chúng đưa ông trở lại lao Hội An để chờ đáp
tàu lửa đi Đà Nẵng. Ông đã gặp lại Huỳnh Thúc Kháng ở
đó. Trong “Thi tù tùng thoại”, Huỳnh Thúc Kháng có kể
lần gặp gỡ bi thương ấy cùng chủ định của ông: Tòa Nam
án kết án Châu quân chung thân đày Lao Bảo. Kể từ khi Châu
quân bị bắt đến thành án, trên hai mươi ngày, một hột cơm
không vào trong miệng, mỗi ngày chỉ uống vài chén nước trà
loãng do người con đem vào thôi.
Nghe Châu quân nhịn ăn lâu ngày, tôi định không thể
sống dược (Châu quân đã giải lên tỉnh mà tôi cùng Tiểu
La tiên sinh còn giam ở ngục Faifoo). Bỗng một ngày nọ, 11
giờ, cánh cửa phòng giam tôi được mở toang. có mấy người
lính tập dẫn năm sáu người tù vào, cùng giam vào phòng
tội Hỏi thì họ nói bị đày đi Lao Bảo, gửi giam tạm
buổi mai, đợi chiều lên xe lửa. (Lúc ấy đường
Faifoo-Tourane có đoạn đường xe hỏa đi phía núi Ngũ Hành).
Sau lính ra, cửa khóa lại, tôi nhìn thấy người bên kia
mặt đen như than, tay chưn (chân) như ống quyển, hai mắt
nhắm khít, không còn là hình dạng người, hơi thở như sợi
tơ, chừng như lâu mới nhận ra, thì không phải người nào
lạ mà chính Châu Thơ Đồng tiên sinh! Mà ốm o gần chết vì
đã tuyệt thực trên 20 ngày nay
Tôi gọi thử: Khi ấy Châu quân mở hai mắt nhìn tôi một chốc lâu rồi
nói nho nhỏ trong cổ: Nói rồi nhắm mắt lại như cây khô vậy. Hai giờ chiều
bữa ấy, Châu quân bị bồng lên võng chở re hỏa xa cùng đi
với bọn tù kịa. Đến Huế thì Châu quân chết trong lao
Phủ Thừa. Bấy giờ vào khoảng cuối tháng 3 năm Mậu Thân
(tháng 4 năm 1908)”.
Kiên cường bất khuất, sẵn sàng dâng hiến cả tài sản
và tính mệnh cho sự nghiệp cứu nước, chỉ ước mong sớm
đuổi được giặc ra khỏi đất nước, để đồng bào
khỏi bị đọa đày đau khổ, đó là nhân cách cao đẹp mà
Châu Thượng Văn, người con của Hội An, đã nêu gương cho các
thế hệ sau và góp phần làm nên truyền thống lịch sử
của nhân dân Quảng Nam-Đa Nẵng.
Trần Viết Ngạc |